Thứ Hai, 4 tháng 5, 2009

Lam phat hay giam phat

Một bên lo lạm phát, một bên lo giảm phát

Trên cùng số báo ra ngày 3/5/2009, tờ New York Times đăng hai bài của hai nhà kinh tế và điều lạ là một ông quan ngại nước Mỹ sẽ rơi vào tình trạng lạm phát còn ông kia tỏ ra lo lắng chuyện giảm phát trong tương lai.

Lập luận của Paul Krugman trong bài “Hội chứng lương giảm” như vầy: Lương đang giảm ở khắp nước Mỹ. Nếu lương giảm ở một doanh nghiệp, doanh nghiệp này có thể dựa vào đó để giảm giá thành, nâng sức cạnh tranh, nhờ đó công nhân không bị mất việc. Nhưng một khi cả nền kinh tế đều giảm lương như nhau thì không ai được lợi, mà nền kinh tế sẽ bị thiệt hại vì lương giảm kéo theo chi tiêu giảm, nợ tăng, kỳ vọng xấu đi, dẫn đến giảm phát và đình đốn.

Ngược lại, trong bài “Đất nước lạm phát”, Allan Meltzer cho rằng hiện nay Mỹ đang đi lại con đường trong thập niên 1970s – nới lỏng tín dụng, mở rộng chi tiêu, in tiền để chống suy thoái, còn lạm phát tính sau. Vì thế ông e rằng những năm tháng tới lạm phát sẽ lù lù trước mặt. Bằng chứng ông đưa ra là mức lãi suất hiện nay gần bằng zero, FED mua vào trái phiếu và hợp đồng cầm cố, tung tiền vào lưu thông, FED không duy trì tính độc lập mà trở thành công cụ tiền tệ cho Bộ Tài chính, thâm hụt ngân sách khổng lồ, khả năng phải phá giá đồng đô-la…

Không biết độc giả của tờ báo này sẽ nghe theo ai?

 

 

 

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2009

Het xuat vang la ly do

Hết xuất vàng là lý do

Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 3-5 trích lời một chuyên gia nghiên cứu kinh tế cho rằng: “… do VN vẫn cần nhập nguyên liệu mới có thể sản xuất nhiều mặt hàng nên việc nhập siêu tăng trở lại (khoảng 700 triệu USD) trong tháng 4-2009 là một tín hiệu chứng tỏ nền kinh tế VN đã bắt đầu sôi động hơn…”

Đây là một nhận xét hơi vội vàng.

Nhập siêu tăng trở lại là vì tháng 4-2009, Việt Nam chỉ còn xuất khẩu khoảng 15 triệu đô-la vàng và nữ trang (chủ yếu là gia công đá quý và đồ trang sức) trong khi tháng 3-2009 con số này là trên 1 tỷ đô-la.

Nhập khẩu tháng 4-2009 vẫn còn giảm 38,2% so với cùng kỳ năm ngoái và tính chung 4 tháng đầu năm nay vẫn còn giảm 41% so với bốn tháng đầu năm 2008.

Mot thai cuc khac

Một thái cực khác

Ở một thái cực ngược lại chuyện “đào tạo tiến sĩ dỏm” ở Việt Nam mà nhiều người đã phân tích, GS Mark Taylor (Đại học Columbia) vừa viết trên tờ New York Times về các chương trình nghiên cứu sinh ở các đại học Mỹ mà theo ông: 1) cho ra đời những sản phẩm không có thị trường; 2) phát triển những kỹ năng mà nhu cầu ngày càng thu hẹp; 3) với chi phí ngày càng tăng.

Trước đây từng nghe kể chuyện các lãnh vực nghiên cứu ở Mỹ ngày càng hẹp đến nỗi, một người bạn ví von, anh A nghiên cứu đầu con tôm, anh B tìm hiểu sâu thân con tôm còn anh C chuyên trị đuôi con tôm.

GS Taylor cũng có nhận xét như vậy. Ông cho rằng các nghiên cứu ngày càng nhiều nhưng ngày cũng càng ít đi vào thực chất, mỗi chuyên gia sở hữu kiến thức chuyên ngành hẹp mà thường là không liên quan gì đến các vấn đề quan trọng thật sự.

Ông này bật mí các trường khuyến khích sinh viên đi làm nghiên cứu sinh bậc tiến sĩ vì sử dụng họ làm trợ giảng hay trợ lý phòng nghiệm thì rẻ hơn nhiều so với việc phải tuyển giáo sư toàn thời gian.

Có dịp đọc khá nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội Việt Nam của các nhà nghiên cứu nước ngoài, tôi thấy phần lớn rất công phu nhưng phải nói là vô bổ. Họ tiêu tốn rất nhiều thời gian cho những mô hình phức tạp để cuối cùng đưa ra những kết luận mà bằng trực giác nhiều người khác có thể chỉ ra trong một bài viết ngắn. Ẩn đằng sau một loại ngôn ngữ rất hàn lâm, phức tạp, các nghiên cứu loại này nếu diễn dịch ra một ngôn ngữ bình thường, sẽ thấy… không nói lên điều gì cả. Dĩ nhiên vẫn có những công trình rất hữu ích, rất hấp dẫn và mới lạ nhưng loại trên phải nói chiếm đa số, ít nhất trong kinh nghiệm của tôi.

 

 

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2009

Thue va tham nhung

Thuế và tham nhũng

Tình cờ đi tìm số liệu để viết về dự luật thuế nhà ở, tôi mới phát hiện ra tỷ lệ thu thuế trên GDP của Việt Nam cao hơn các nước láng giềng rất nhiều.

Theo số liệu của ADB trong tài liệu “Key Indicators for Asia and the Pacific 2008” thì tỷ lệ thu thuế trên GDP của Việt Nam năm 2006 (năm có số liệu đầy đủ đề so sánh) là 23,7%. Trong lúc đó tỷ lệ này ở các nước Indonesia chỉ là 12,3%, Malaysia - 15,1%, Philippines – 14.3%, Singapore – 12,9%.

Các con số này đặt ra khá nhiều câu hỏi:

-         Ở Việt Nam, không lẽ tình trạng sưu cao thuế nặng trầm trọng hơn ở nước khác?

-         Nếu không thì GDP Việt Nam bị tính sai, tính thiếu. Nếu cộng GDP từ khu vực phi chính thức, con số GDP thật phải cao hơn nhiều?

-         Vì sao lương công chức nhà nước ở Việt Nam thấp hơn các nước khác trong khi thu thuế cao hơn? 

-         Nếu giải quyết tình trạng tham nhũng, tiền thu thuế như thế ắt đủ để trả lương xứng đáng cho công chức như các nước khác?

Một tài liệu khác của World Bank cho biết thất thu thuế từ khu vực tư nhân của Việt Nam cao vời vợi. Theo báo cáo này, lẽ ra số thuế thu nhập doanh nghiệp phải thu được từ khu vực tư nhân trong nước năm 2007 là 29.451 tỷ đồng nhưng thực tế chỉ thu được 7.920 tỷ đồng. Con số 21.531 tỷ đồng không thu được đi về đâu? Có lẽ các doanh nghiệp tư nhân dùng nói để “bôi trơn” hoạt động, một dạng thuế không nộp trực tiếp vào ngân sách mà vào túi các quan chức trong bộ máy hành chính, một dạng “phân bổ” thu nhập do những người trong cuộc tự xoay xở với nhau.

Cập nhật:

+ Theo số liệu dự toán năm 2009 của Bộ Tài chính, GDP năm 2008 ước đạt 1.490 ngàn tỷ đồng; thu từ thuế và phí là 371 ngàn tỷ đồng. Như vậy tỷ lệ thu thuế và phí trên GDP năm 2008 là 24,9%. Tỷ lệ này trong dự toán 2009 thấp hơn, chừng 20%.

+ Nhận xét của anh Giang về tính lũy tiến (progressive) của hệ thống thuế ở Việt Nam (hay đúng ra là sự thiếu vắng tính chất này) là chính xác, nhất là những năm trước đây (VAT chiếm đến 22,1% tổng thu thuế trong khi thuế thu nhập cá nhân chỉ có khoảng 2,3%, thấp hơn cả thuế tiêu thụ đặc biệt – 5,5% - số liệu năm 2007). Thế cho nên việc hoãn thuế thu nhập cá nhân theo tôi càng tạo ra sự bất bình đẳng. Và thuế nhà đất phải nhắm đến đặc tính lũy tiến chứ không phải là tận thu cho ngân sách.

 

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2009

Khung hoang, chau A va Viet Nam

Khủng hoảng, châu Á và Việt Nam

Nguyễn Vạn Phú

Hội nghị “Nhận dạng những thách thức của châu Á và vai trò mới của Việt Nam” do báo Wall Street Journal phối hợp cùng Bộ Kế hoạch & Đầu tư tổ chức vào giữa tuần này tại TPHCM là một dịp để chúng ta lùi lại một chút, tách khỏi những vụ việc hàng ngày để nhìn vào những vấn đề tương đối dài hạn về vị thế của châu Á trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay. Với độ mở của nền kinh tế, Việt Nam khó lòng tự mình giải quyết những vấn đề kinh tế nếu không đặt mình vào một góc nhìn như thế.

Ốc đảo hay quân cờ đô-mi-nô?

Mỗi khi nhắc đến châu Á trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu, trước đây người ta thường nhắc đến khái niệm “decoupling” với nghĩa nền kinh tế châu Á, với sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ, đã có thể phát triển độc lập, bất kể khủng hoảng tài chính ở Mỹ hay châu Âu, bất kể sự sút giảm nhu cầu của người tiêu dùng ở các thị trường này. Số liệu thống kê những năm tiền khủng hoảng cho thấy thương mại nội vùng gia tăng mạnh, làm cho nhiều người tin tưởng vào chuyện “đường ai nấy phát triển” này. Lúc đó, xuất khẩu của các nền kinh tế như Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á sang Mỹ giảm tương đương với mức tăng xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ. Trung Quốc thế chỗ Nhật Bản là nơi nhập hàng lớn nhất từ các nước châu Á. Từng có thời điểm người ta phân tích Trung Quốc, hay đúng hơn là nhu cầu khổng lồ về nguyên vật liệu của nước này đã nâng đỡ nền kinh tế Nhật Bản và Hàn Quốc như thế nào.

Tuy nhiên, khi khủng hoảng lan rộng, các nhà quan sát lại quay sang phân tích những sai lầm của lý thuyết “decoupling” này. Rõ ràng châu Á là một bộ phận không thể tách rời của kinh tế toàn cầu, tác động của khủng hoảng xuất hiện trước tiên ở lãnh vực tài chính, sau đó qua ngoại thương và lan đến sản xuất nội địa. Ngay cả việc Trung Quốc nhập hàng hay nguyên liệu của các nước châu Á cũng chỉ để lắp ráp hay sản xuất hàng xuất khẩu qua Mỹ hay châu Âu. Đến 70% thương mại nội vùng là bao gồm các loại linh kiện mà một nửa được dùng để lắp ráp hàng xuất khẩu ra khỏi châu Á. Dòng chảy vốn đầu tư nước ngoài vào châu Á, suy cho cùng, cũng nhắm vào các hoạt động sản xuất phục vụ cho người tiêu dùng phương Tây. Một khi nhu cầu tiêu dùng ở các thị trường Mỹ, châu Âu sụt giảm, bộ máy sản xuất hàng hóa như một công xưởng cho toàn thế giới ở châu Á chuyển động chậm dần với nhiều trục trặc như bị ngộp xăng.

Hiện nay, số liệu thống kê quý 1-2009 lại làm sống lại sự kỳ vọng vào chuyện “phương Tây có hắt hơi, châu Á không hề phải sổ mũi theo”. Chứng khoán ở Trung Quốc và Ấn Độ đã tăng 25-30% từ mức thấp nhất, GDP của hai nước này dự báo sẽ tăng trên 5% trong năm 2009 mặc do tốc độ tăng trưởng của các nước OECD vẫn ở mức âm. Người ta quay sang nhận định: cho dù kinh tế châu Á không thể tách biệt khỏi ảnh hưởng của sự hưng vong của kinh tế toàn cầu, việc xây dựng mức cầu nội địa cùng với sức mua ngày càng tăng của người dân châu Á sẽ là xu hướng chống đỡ cho kinh tế châu Á thoát khỏi ảnh hưởng khủng hoảng nhanh nhất và hiệu quả nhất.

Theo nhiều nhận định được đưa ra gần đây, các nước thuộc khối OECD vẫn sẽ phải chịu mức tăng trưởng GDP không quá 1% trong vòng năm năm tới. Trong cùng thời gian đó, nếu Ấn Độ và Trung Quốc vẫn duy trì mức tăng trưởng 6-7% thì tỷ trọng GDP của châu Á (tính theo sức mua) trong GDP toàn cầu sẽ tăng từ mức 45% hiện nay lên 60% vào năm 2015. Lúc đó, bất kể kinh tế các nước phương Tây có rơi vào khủng hoảng hay không, kinh tế châu Á vẫn sẽ có động lực riêng để phát triển. Vì thế, người ta cho rằng ưu tiên số một của các nước châu Á hiện nay là phát triển bền vững những thị trường nội địa chứ không phải là chăm chăm lo làm hàng xuất khẩu.

Những lựa chọn cho Việt Nam

Riêng với Việt Nam, sự chọn lựa có phần hạn chế hơn nhiều. Độ mở của nền kinh tế cao hơn so với các nước láng giềng. Xuất khẩu của Việt Nam tương đương 76,8% GDP (năm 2007) so với mức 36% của Trung Quốc, 45,6% của Hàn Quốc, 29,4% của Indonesia hay 42,6% của Philippines. Các nỗ lực sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu không đem lại kết quả như mong muốn, trừ các loại hàng tiêu dùng thông thường (nhập khẩu tương đương đến 90% GDP trong năm 2007). Và chính sách hướng về xuất khẩu, mặc dù là động lực phát triển cho Việt Nam trong nhiều năm qua, lại đặt nền kinh tế vào vị thế chịu nhiều tác động từ bên ngoài, từ khủng hoảng giá năng lượng, giá nguyên vật liệu, nông sản đến sự sụp đổ nhu cầu tiêu dùng của các thị trường xuất khẩu chính yếu. Trong khi đó thị trường trong nước lại để ngỏ cho hàng giá rẻ, chất lượng thấp tràn vào. Việt Nam cũng dựa nhiều vào đầu tư để làm động lực tăng trưởng – một yếu tố nữa nói lên sự phụ thuộc vào bên ngoài của nền kinh tế.

Vì thế hiện nay chọn lựa của Việt Nam là duy trì mô hình phát triển dựa vào xuất khẩu trong khi điều chỉnh dần việc hướng về thị trường nội địa về lâu về dài hay bị đẩy theo hướng phụ thuộc vào Trung Quốc trong một mối quan hệ ngoại thương và đầu tư phục vụ cho công xưởng sản xuất khổng lồ này.

Nhiều dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang bị kéo vào mối quan hệ này. Kim ngạch ngoại thương với Trung Quốc tăng rất mạnh trong những năm gần đây và nhập siêu từ Trung Quốc chiếm gần tới hai phần ba tổng nhập siêu của Việt Nam. Việt Nam chủ yếu xuất sang Trung Quốc những hàng hóa mà Trung Quốc sẽ làm nguyên liệu đầu vào cho việc sản xuất hàng để xuất bán trên toàn thế giới. Không dừng ở đó, Việt Nam lại tiếp nhận những ngành gia công có giá trị gia tăng thấp hay gây ô nhiễm môi trường nhiều từ Trung Quốc đổ sang. Tranh cãi chung quanh việc khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên cũng nằm trong xu hướng đó khi Việt Nam chỉ đóng vai trò cung cấp nguyên vật liệu cho Trung Quốc và ngày càng phụ thuộc vào khách hàng khổng lồ này. Trong một bài phân tích gần đây, GS Trần Văn Thọ từ Nhật Bản cho rằng: “Cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam đối với Trung Quốc là cơ cấu có tính chất bắc nam, một cơ cấu mậu dịch giữa nước chậm tiến và nước tiên tiến”. Quan hệ thương mại bắc nam này có nghĩa các nước phía bắc xuất khẩu hàng công nghiệp còn các nước phía nam xuất khẩu nguyên liệu, các hàng nông, lâm, thủy sản ở dạng thô hoặc sơ chế. “Năm 2007, riêng dầu thô, than đá đã chiếm gần 40% tổng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc và nếu kể thêm cao su, gỗ, rau quả, trà, cà phê và những sản phẩm thô sơ khác, tỉ lệ đó lên tới 80%. Hàng công nghiệp chỉ chiếm độ 20%” – GS Thọ cho biết.

Ngược lại, trong suốt những năm trước khủng hoảng, nhà đầu tư nước ngoài luôn nhìn đến Việt Nam trong chiến lược Trung Quốc + 1. Họ muốn tìm một nơi có những yếu tố thuận lợi như Trung Quốc để đầu tư nhằm phòng tránh rủi ro khi đặt cược hết vào nước này. Kỷ lục vốn đầu tư FDI đăng ký trong hai năm 2007 và 2008 minh họa rất rõ cho xu hướng đó. Dĩ nhiên, trong cao điểm của khủng hoảng, dòng vốn này sẽ bị giảm mạnh cùng với sự giảm sút trong xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng một khi đã nói đến tầm nhìn dài hạn, không thể vì khó khăn trước mắt để phải chìu theo xu hướng phụ thuộc vào mối quan hệ theo “cơ cấu bắc nam” nói ở trên. Đó có thể là lời giải dễ dàng nhưng không bền vững.

Điều đáng tiếc là hầu như không có sự nghiên cứu mang tính tổng thể nào về bức tranh phát triển dài hạn như thế mà chỉ là những mối quan tâm ngắn hạn, mang tính tình thế. Khủng hoảng kinh tế sớm muộn gì cũng trôi qua, vấn đề là ở chỗ xác định con đường phát triển của Việt Nam trong tương lai, để không chỉ phòng tránh những cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu sau này mà còn tránh được sự phụ thuộc vào bất kỳ thị trường riêng lẻ nào.

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2009

Trach ai


Trách ai

Nguyễn Vạn Phú

Một giáo sư tại một trường đại học kinh tế nói dạo này ông không viết gì được nữa bởi mọi chuyện đang thay đổi nhanh chóng, bản thân ông phải theo dõi, nghiên cứu diễn biến kinh tế thế giới cũng như các cuộc tranh luận của giới kinh tế gia nhằm rút ra cho mình những kết luận mới dựa trên các lý thuyết cũ.

Đó là một sự lùi lại cần thiết vì đã có những trường hợp các nhà kinh tế bị hố to như một giáo sư kinh tế nổi tiếng ở Mỹ đã bỏ tiền mua nhà ngay đúng đỉnh điểm lúc giá nhà cao nhất và ngay sau đó sụt giảm liên tục vì khủng hoảng nợ dưới chuẩn. Không hiếm các nhà nghiên cứu thị trường chứng khoán hiện đang ôm trong người nhiều cổ phiếu của các đại công ty mua lúc giá cao ngất ngưởng. Một chuyên gia kinh tế vừa mới dự báo sẽ không có chuyện nâng biên độ tỷ giá hôm nay, ngày mai Ngân hàng Nhà nước công bố biên độ mới!

Có phải kinh tế học hiện đang bất lực, không giúp thế giới vượt qua khủng hoảng? Có phải các nhà kinh tế cũng là thủ phạm góp phần dẫn đến khủng hoảng hiện nay, nhất là khi họ liên tục rao giảng về lợi ích của việc nhà nước càng ít can thiệp vào thị trường càng tốt vào những năm trước đây? Vì sao cùng một vấn đề, các nhà kinh tế không ngớt tranh luận với những ý kiến chỏi ngược nhau đến kỳ lạ?

GS Dani Rodrik, Đại học Harvard, cho rằng lỗi là ở các nhà kinh tế chứ không phải ở kinh tế học. Bởi kinh tế học không đơn thuần ca tụng kinh tế thị trường như nhiều người vẫn tưởng. Vẫn có những nghiên cứu sâu sắc về mặt trái của tự do hóa thương mại; về sự bất lực của thị trường tài chính không tạo ra được tính hiệu quả tối ưu trong nhiều trường hợp; về tính hữu ích của can thiệp nhà nước để tạo ra sự bình đẳng trong xã hội.

Vấn đề nằm ở chỗ, nhà kinh tế - trước hết là con người chịu tác động của xã hội đang sống - sẽ có xu hướng tô đậm lý thuyết kinh tế này và bỏ qua những ý kiến khác ngược. Họ lý giải kinh tế học dựa vào cách nhìn chủ quan của họ đối với mọi hoạt động kinh tế.

Ở mức thấp nhất, họ sẽ coi trọng sự tối ưu hóa thị trường mà bỏ quên những yếu tố con người, ví dụ, sẽ cổ xúy cho việc một công ty đa quốc gia liên tục di dời nhà máy đến chỗ có lao động và nguồn nguyên liệu giá rẻ nhất, không cần biết trên con đường đó sẽ có bao nhiêu số phận con người hay số phận cả một vùng dân cư thăng trầm theo dòng chảy vốn đầu tư. Lý thuyết tối ưu hóa thương mại sẽ buộc họ lên tiếng ủng hộ cho việc mở cửa thị trường, bỏ hàng rào thuế quan, chống bảo hộ sản xuất trong nước.

Ở mức cao hơn, nhà kinh tế một khi đã tin theo một chủ thuyết nào đó, ví dụ nghiệp đoàn lao động cản trở sự phát triển của sản xuất thì họ sẽ lập luận rất thuyết phục, bằng những chứng cớ hùng hồn để bảo vệ cho quan điểm của mình. Một nhà kinh tế khác lại đi tìm và sẽ tìm được những bằng chứng cho thấy nghiệp đoàn giúp nâng cao năng suất lao động, động cơ làm việc, cải tiến sản xuất… Như thế cuộc tranh cãi sẽ diễn ra liên tục không ngừng.

“Thay vì trình bày mọi sự chọn lựa và liệt kê mọi sự đánh đổi liên quan – mà đấy chính là ý nghĩa của kinh tế học – các nhà kinh tế lại thường nói lên sự chọn lựa xã hội và chính trị của chính họ. Thay vì làm nhà phân tích, họ trở thành nhà lập thuyết, thích cách tổ chức xã hội như thế này hơn thế kia” – GS Rodrik nhận xét.

Vì vậy, các nhà làm chính sách cần hiểu rõ động cơ và thái độ của nhà kinh tế trước mỗi khuyến nghị của họ. Ví dụ, chuyện tỷ giá, nếu đứng từ lợi ích của nhà nhập khẩu sẽ có những ý kiến khác so với góc nhìn từ lợi ích của nhà xuất khẩu. Chúng ta đã có những kinh nghiệm quý báu từ cuộc khủng hoảng năm ngoái khi hàng loạt các phân tích của các tổ chức tài chính quốc tế hóa ra không chính xác trong khi các khuyến nghị của các nhà kinh tế trong và ngoài nước, nhìn từ lợi ích của đất nước, đã dẫn đến những chính sách đúng đắn, kịp thời và hiệu quả trong việc chặn đứng lạm phát, ổn định tỷ giá và cán cân thanh toán. Giả thử nếu lúc đó vẫn tiếp tục có chính sách dựa trên những lợi ích liên quan đến thị trường chứng khoán hay địa ốc, có lẽ khủng hoảng đã kéo dài và trầm trọng hơn.

Hiện nay cũng vậy, tranh cãi trong phân tích tình hình kinh tế và những biện pháp đề xuất là chuyện bình thường. Vấn đề là nhìn từ góc độ nào, lợi ích của ai để phân tích – từ đó sẽ thấy một chính sách có lợi cho doanh nghiệp nhà nước chưa hẳn có lợi cho nền kinh tế nói chung; một chính sách nghe rất hay trong ngắn hạn chưa hẳn đã ổn trong dài hạn, những phân tích lạc quan, trấn an lòng người chưa chắc đã là liều thuốc hay so với cách nhìn thẳng thắn, đụng đến bản chất vấn đề, đòi hỏi có giải pháp gây đau đớn nhưng hữu hiệu hơn, bền vững hơn. Dù sao, khi nhà kinh tế còn bất đồng, thế giới mới biết được những quan điểm khác nhau và chỗ đứng của từng con người trong thế giới đó. Còn khi tất cả đều im lặng hay cùng đồng lòng thuận theo một lý thuyết nào đó, lúc đó mới là lúc cần cảnh giác.

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2009

Thang 12 bien mat

Tháng 12 biến mất?

Khủng hoảng tài chính những tưởng đã làm các định chế tài chính, ngân hàng Mỹ cẩn trọng hơn trong việc “làm đẹp sổ sách”. Không ngờ, họ vẫn “ngựa quen đường cũ”.

Quý 1-2009, Goldman Sachs báo lãi 1,81 tỷ đô-la, gấp đôi con số dự báo của nhiều người đưa ra trước đó. Đơn giản vì Goldman Sachs chơi màn “ảo thuật”. Những năm trước, quý 1 trong năm tài chính của Goldman Sachs là gồm tháng 12, tháng 1 và tháng 2. Nay họ đổi sang năm tài chính mới trong đó quý 1 gồm các tháng 1, 2 và 3. Như vậy trong báo cáo quý trước (gồm các tháng 9, 10 và 11) và báo cáo quý này, tháng 12-2009 đã biến mất đối với Goldman Sachs.

Vấn đề ở chỗ, tháng 12-2009, Goldman Sachs lỗ đến 1,3 tỷ đô-la. Và cũng rất “ngẫu nhiên”, tháng đó Goldman Sachs đưa vào sổ sách hàng loạt vụ write-offs, dồn lỗ cho tháng mà họ biết sẽ biến mất trong báo cáo, tăng lãi cho quý vừa rồi.

Bài đăng phổ biến