Thứ Bảy, 24 tháng 4, 2010

Đằng sau vấn nạn “luộc” giáo trình

Đằng sau vấn nạn “luộc” giáo trình

Sao chép giáo trình của người khác làm của mình là điều không thể chấp nhận. Đó là chuyện hiển nhiên. Nhưng điều cần làm là tìm hiểu cái cơ chế gì đã gây ra hiện tượng đáng buồn này, có cách nào để tạo môi trường nơi việc sao chép không có động cơ gì để tồn tại.

Thông thường ở các nước, mỗi môn học có rất nhiều sách giáo khoa nhưng tồn tại được trên thị trường, được các giáo sư sử dụng là vài cuốn nổi bật. Giảng viên chọn cuốn nào thì thông báo ngay từ đầu năm để sinh viên mượn ở thư viện hay đi mua sách về học. Không thể có chuyện một nước có vài trăm hay vài ngàn trường đại học, mỗi trường đều gắng sức soạn giáo trình cho riêng trường mình sử dụng.

Ở Việt Nam, nhiều giảng viên đại học cho biết, trường nào cũng có hệ thống giáo trình riêng của mình, bề ngoài là để phù hợp với đặc điểm chương trình giảng dạy, để thể hiện năng lực đào tạo, tính tự chủ trong chuyên môn. Nhưng sâu xa hơn, việc biên soạn giáo trình đem lại những lợi ích mang tính cục bộ cho những người trong cuộc. Trường thì được tiếng là chủ động được giáo trình, ít trường nào chịu sử dụng giáo trình của trường khác biên soạn. Chủ biên thì được tính vào thành tích để được phong hàm giáo sư hay phó giáo sư. Đó là chưa kể lợi ích vật chất rất rõ khi bán được sách cho sinh viên. Dĩ nhiên vẫn có những nhóm biên soạn sách giáo khoa có chất lượng cao, với tâm huyết làm được một điều gì đó có ích cho nền giáo dục. Nhưng với đại đa số các trường, nhất là hàng trăm trường vừa mới được thành lập trong thời gian gần đây, năng lực làm sao đủ để biên soạn giáo trình, từ đó chuyện sao chép, chuyện cắt dán diễn ra tràn lan.

Thay đổi thực trạng này là khá dễ, chỉ cần mọi người thay đổi cách suy nghĩ.

Trước hết là thay đổi quy định từ Bộ, đừng buộc hiệu trưởng “tổ chức biên soạn hoặc tổ chức lựa chọn, duyệt giáo trình”. Công việc chọn sách giáo khoa, sách tham khảo nên giao cho giảng viên trực tiếp làm, với sự tham vấn của tổ bộ môn, miễn sao sách phù hợp nội dung chương trình khung do Bộ quy định. Các trường đại học và giảng viên đừng nên tiêu phí công sức vào việc cố gắng tổ chức biên soạn giáo trình cho riêng mình bất kể nguồn lực có hạn. Phải vì lợi ích chung và lợi ích của sinh viên để gạt tự ái qua một bên.

Nếu làm được điều đó, chỉ cần một thời gian ngắn sẽ xuất hiện những bộ sách giáo khoa có chất lượng và việc cạnh tranh để sách được nhiều giảng viên đồng nghiệp chọn buộc người biên soạn phải luôn cố gắng nâng cao chất lượng, lại chịu sự giám sát rộng rãi nên không thể có chuyện sao chép. Quy mô sử dụng càng lớn, động lực soạn sách hay sẽ càng cao. Các trường và giảng viên vẫn có thể bổ sung những nội dung nếu thấy cần giảng dạy cho sinh viên.

Thật ra mô hình sử dụng sách giáo khoa như ở các nước cũng có những khiếm khuyết. Người ta phê phán nó tạo ra một dạng độc quyền ẩn khi giảng viên có quyền yêu cầu sinh viên sử dụng sách mình muốn chọn, giá sách quá cao. Ở nước ta rất dễ xảy ra chuyện “vận động” để sách mình được chọn nhiều nhất khi hiện tượng độc quyền trực tiếp như hiện nay chấm dứt. Hiện nay các nước đang giải quyết bằng cách xây dựng các mô hình thay thế như nhà xuất bản cung ứng dịch vụ cho thuê sách, tổ chức bán lại sách đã qua sử dụng, đưa giáo trình miễn phí lên mạng, soạn sách giáo khoa điện tử...

Nhưng đó chưa phải là vấn đề trước mắt của Việt Nam. Vấn đề cần giải quyết là làm sao tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh trong việc biên soạn và sử dụng sách giáo khoa để tránh nạn “luộc” sách và nâng chất lượng giáo trình.

Thứ Năm, 22 tháng 4, 2010

BBC và một case study cho nghề báo

BBC và một case study cho nghề báo

Tôi có ước muốn biên soạn một cuốn sổ tay làm báo, ghi lại kinh nghiệm của mình và đồng nghiệp nhưng chưa thể thu xếp thời gian để thực hiện. Thế nhưng nếu có viết, chắc chắn vụ việc BBC (Ban tiếng Việt) xử lý bài của tác giả Đỗ Ngọc Bích sẽ là một trường hợp nghiên cứu (case study) thú vị và bổ ích. Bổ ích vì nó có thể là bài học cho người làm báo - lý thuyết nói ra thì dễ nhưng thực hành cho nhất quán lại khó nên phải tự mình nhắc nhở mình cố gắng làm cho đúng nguyên tắc.

Cái sai đầu tiên của BBC là thiếu kiểm chứng đầy đủ. Một tờ báo lúc nào nhận bài của cộng tác viên, nhất là cộng tác viên mà tên tuổi đã quen thuộc với công chúng đều phải kiểm chứng xem có đúng là do tác giả gởi hay không, có phải thông tin về tác giả đúng như họ công bố không, mình có hiểu đúng thông tin không. Nếu làm tốt công đoạn này, BBC đã không phạm sai lầm về chuyện Đại học Yale hay Đại học Hawaii at Manoa để sau đó phải cáo lỗi độc giả. Không rõ quy trình kiểm chứng của BBC hỏng ở khâu nào. (Xin mở ngoặc nói thêm, điều thú vị là nhiều cộng tác viên gởi bài lại yêu cầu không ghi cụm từ “tiến sĩ” trước tên của họ, nhiều người cẩn thận dặn không được ghi nơi họ đang công tác vì họ viết với tư cách cá nhân).

Thứ nhì, bất kỳ điều gì đăng lên báo thì người biên tập phải hiểu, không hiểu thì phải hỏi cho rõ chứ không biên tập ẩu. Ví dụ thấy ghi Ph.D (ABD) phải hiểu là “còn chút xíu nữa mới là tiến sĩ”. Tôi nghĩ ở đây BBC đã mắc lỗi diễn dịch sai chứ không phải lỗi của tác giả còn tác giả sử dụng cái danh xưng Ph.D (ABD) nghe có kỳ cục hay không là chuyện khác.

Thứ ba, bài của cộng tác viên viết mang tính phê phán một nhân vật thứ ba thì càng phải kiểm chứng với các nguồn liên quan trước khi đăng. Giả thử có ông A viết bài sỉ nhục ông B mà tòa soạn lập luận cứ đăng trong phần diễn đàn rồi thêm câu “đây là quan điểm của người viết, không phải của chúng tôi” để giải trừ trách nhiệm là không ổn. Bài viết đang đề cập liên quan đến cả một dân tộc nên cần phải kiểm chứng hay chính xác hơn là phải tham vấn ý kiến các chuyên gia trong lãnh vực đó để nhờ họ thẩm định trước khi đăng tải. Phải thẩm định là vì nhiều ý trong bài mang tính khẳng định như là facts chứ không phải là opinion – khi facts bị sai thì nơi đăng tải phải liên đới chịu trách nhiệm.

Cái sai thứ tư của BBC là không tôn trọng nguyên tắc xử lý bài mang tính gây tranh cãi. Ví dụ, có một ai đó gởi tới New York Times một bài nói rằng vụ khủng bố ngày 11/9 là không có thật, chắc chắn tờ báo này sẽ không đăng. Nếu bài lập luận vụ 11/9 là do âm mưu của chính phủ Mỹ, họ cũng sẽ không đăng nếu lập luận không có bằng chứng gì đi kèm mang tính thuyết phục. Giả thử có ai gởi tới một tờ báo của Israel nói rằng vụ tàn sát người Do Thái là chuyện tưởng tượng, làm sao tờ báo này chịu đăng. Là tờ báo của một nước thứ ba, BBC càng phải thận trọng trong việc này.

Từ đó mới thấy cái sai thứ năm của BBC là thiếu tính mục đích trong xử lý bài vở. Báo chí phương Tây rất tự do trong đưa tin, điều đó đã rõ nhưng tự do không có nghĩa tờ báo không có chủ kiến. Dù gọi là chủ kiến, chủ đích hay “tôn chỉ mục đích”, nó là định hướng cho tờ báo để hành xử trong công việc hàng ngày. Phương châm (motto) của BBC là “Nation shall speak peace unto Nation” (đại ý nhấn mạnh mục đích khuếch trương hòa bình giữa các quốc gia). Bây giờ nhìn lại cái phương châm này, không biết Ban tiếng Việt của BBC có chột dạ không nhỉ. BBC là đài của Anh, tự nhiên đăng bài của một người khẳng định “Việt Nam vẫn luôn là một phần của Trung Quốc” thì sao gọi là khuếch trương hòa bình được nhỉ. Mục đích của việc đăng một bài như thế là gì, nhìn ở góc độ nghề nghiệp, tôi không thể nào hiểu nổi.

Còn nhiều cái sai nữa như cách đính chính trên báo điện tử, cách đính chính cho trọn vẹn, cách biên tập, cách xử lý bài phản hồi… nhưng như tôi đã nói ở đầu bài, đây là những lỗi ai cũng có thể mắc phải (có người viết bài này trong số đó). Vấn đề là rút ra bài học để sau này khỏi sai và trước mắt để xử lý cái sai của mình cho nghiêm túc và có thiện ý để lấy lại uy tín cho mình.

Thứ Tư, 14 tháng 4, 2010

Công - tư!

Công - tư!

Tháng 7 đến sẽ có nhiều thay đổi nhân sự ở các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Ấy là do Nghị định 25/2010 của Chính phủ quy định các công ty nhà nước sắp tới khi chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì thành viên Hội đồng thành viên “không là cán bộ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước”.

Trước hết nói về tên gọi. Theo Luật Doanh nghiệp, công ty cổ phần thì có Hội đồng quản trị, công ty trách nhiệm hữu hạn thì có Hội đồng thành viên. Hiện nay các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đều tổ chức theo cơ cấu Hội đồng quản trị nên sắp tới, khi chuyển đổi tất cả sẽ phải đổi thành Hội đồng thành viên.

Với quy định thành viên Hội đồng thành viên “không là cán bộ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước”, những cán bộ nhà nước đang là bộ trưởng hay thứ trưởng được cử kiêm nhiệm các chức vụ như Chủ tịch, ủy viên Hội đồng quản trị các tập đoàn, tổng công ty sẽ phải từ nhiệm một trong hai vai trò. Ví dụ, tháng 10 năm ngoái, ông Lê Dương Quang, Thứ trưởng Bộ Công Thương được cử kiêm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam (TKV) nhưng tháng 7 năm nay sẽ không còn kiêm nhiệm như vậy được nữa. Điều đáng ngạc nhiên là truy cập vào trang web của TKV vào cuối tuần trước, trong phần “Tổ chức bộ máy” vẫn thấy ghi ông Đoàn Văn Kiển làm Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn này!

Riêng Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước không rõ có được xem là ngoại lệ hay không vì hiện nay ban lãnh đạo tổng công ty này gồm nhiều cán bộ kiêm nhiệm như ông Vũ Văn Ninh, Bộ trưởng Bộ Tài chính (kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị), ông Đỗ Hữu Hào, Thứ trưởng Bộ Công Thương; ông Cao Viết Sinh, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch-Đầu tư; ông Trần Văn Hiếu, Thứ trưởng Bộ Tài chính – tất cả đều đang kiêm nhiệm làm ủy viên Hội đồng quản trị.

Hàng loạt trường hợp tương tự như vậy sẽ phải giải quyết trước tháng 7-2010 tại nhiều tổng công ty khác, kể cả tổng công ty trực thuộc bộ hay tỉnh, thành phố.

* * *

Chuyện một quan chức phát biểu “một đất nước nghèo mà bỏ ra cả tỷ đô-la để nhập điện thoại iPhone là không cần thiết” đã được chứng minh không chính xác. Ở đây không bàn đến các con số nữa. Vấn đề là một khi phát hiện những bất cập trong thực tế (nếu có thật), giả dụ việc nhập khẩu các mặt hàng đắt tiền như điện thoại hạng sang, xe hơi giá tiền tỷ, máy bay tư nhân… điều phải làm là các cơ quan hành chính đề xuất biện pháp giải quyết như đánh thuế tiêu thụ đặc biệt. Quốc hội là nơi cân nhắc để phê chuẩn hay bác bỏ những sửa đổi luật lệ hiện hành. Khi luật lệ chưa thay đổi thì bộ máy hành chính không thể can thiệp, bất kể độ “bức xúc” có cao đến đâu.

Nhưng có nhiều trường hợp nếu cứ vin vào luật lệ hiện hành để “bao che” cho cấp dưới làm bậy thì quan chức cũng đang làm sai.

Khi công luận phát hiện ông Nguyễn Hải Châu, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học, Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT) đứng tên chủ biên chừng 18 cuốn sách tham khảo ôn thi đủ các môn từ Toán, Lý đến Sử, Văn… đại diện của Bộ vẫn chống chế rằng đây là việc làm cá nhân không liên quan gì đến Bộ và xét theo Luật Xuất bản thì không có gì sai cả.

Tại sao lại sử dụng Luật Xuất bản để biện minh? Tại sao không xét đến các quy định sẵn có về việc cấm lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tư lợi cá nhân? Câu khẳng định “không có yêu cầu nào [từ Bộ] bảo các em dùng sách tham khảo” cũng không chính xác. Trong công văn số 1556 gởi các sở GD&ĐT, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học đã yêu cầu “Tiếp tục nghiên cứu quán triệt tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng chương trình THPT …”. Và ông Nguyễn Hải Châu đứng tên tác giả các tài liệu này cũng như nhiều sách tham khảo mang tựa đề gần gần giống như vậy. Tình hình những năm trước cũng vậy, ví dụ năm 2008, Vụ Giáo dục Trung học đề nghị các Sở “thông báo để các trường PTTH hướng dẫn giáo viên và học sinh lớp 12 đăng ký mua và sử dụng tài liệu ôn tập nói trên”.

Ngày xưa, người ta đã từng dặn nhau, đi qua ruộng dưa đừng cúi xuống sửa giày; đi qua vườn đào đừng đưa tay ngả mũ. Ấy là dặn nhau ý tứ trong hành xử, đừng để thiên hạ nghi ngờ trong bất kỳ tình huống nào. Đằng này sự việc đã rõ, nếu không xử lý nghiêm làm sao điều khiển được bộ máy?

Thứ Ba, 13 tháng 4, 2010

Tài trợ tín dụng là gì?

Tài trợ tín dụng là gì?

Đọc tít “Mỹ tài trợ 200 triệu USD khai thác bô-xít Lâm Đồng”, rất dễ hiểu nhầm là chính phủ Mỹ bỏ ra 200 triệu đô-la hỗ trợ cho dự án khai thác bauxite ở Lâm Đồng. Hóa ra không phải.

Đọc xuống ở dưới, với câu “ký kết thỏa thuận tài trợ vốn cho dự án Tổ hợp bô-xít Lâm Đồng trị giá 200 triệu USD trong thời hạn 13 năm giữa Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và Citibank”, cũng dễ hiểu nhầm là ngân hàng Citibank cho tập đoàn này vay 200 triệu đô-la. Cũng không chính xác.

Tài trợ vốn hay chính xác hơn, tài trợ tín dụng ở đây là thu xếp vốn vay cho một dự án rồi lấy tiền thu được từ dự án đó để trả lại nợ.

Như vậy Citibank đồng ý đứng ra làm đầu mối thu xếp khoản vốn vay 200 triệu đô-la cho Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, chứ không nhất thiết họ là nơi cho vay. Họ sẽ làm dự án, đưa ra các con số thu chi, rồi thuyết phục các nguồn có khả năng cho vay như các tổ chức tài trợ tín dụng xuất nhập khẩu của các nước, để những nơi này chịu bỏ tiền ra. Đổi lại dự án phải mua máy móc thiết bị của nước cấp tài trợ tín dụng và thông thường bản thân máy móc thiết bị đó trở thành vật thế chấp cho khoản vay. Trong trường hợp này, khoản vay còn được sự bảo lãnh của Bộ Tài chính Việt Nam và sự hỗ trợ của Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư và Xuất khẩu Nhật bản. Citibank đứng giữa để nhận phí dịch vụ thôi chứ không phải họ cho vay 200 triệu đô-la cho dự án bauxite Lâm Đồng.

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2010

Kiện tụng quanh việc ra đời Facebook

Kiện tụng quanh việc ra đời Facebook

Những tình tiết thú vị chung quanh sự ra đời mạng xã hội nổi tiếng Facebook do tờ Silicon Alley Insider tiết lộ sau cuộc điều tra kéo dài hai năm trời.

Trong kinh doanh, tranh chấp về quyền sở hữu ý tưởng kinh doanh xảy ra thường xuyên nhưng với một mạng xã hội lớn như Facebook, có đến 400 triệu người sử dụng thường xuyên, được định giá cỡ 5-10 tỷ đô-la Mỹ thì ý tưởng khai sinh Facebook ắt có giá hàng chục triệu đô-la.

Chính thức mà nói, Facebook do cậu sinh viên năm hai trường đại học Harvard tên Mark Zuckerberg, lúc đó mới 19 tuổi thành lập vào ngày 4-2-2004. Chỉ một tuần sau đó, ba sinh viên Harvard khác cáo buộc Mark ăn cắp ý tưởng của họ. Việc cáo buộc bùng nổ thành một vụ kiện um xùm, kéo dài trong mấy năm liền. Đến năm 2008, hai bên thỏa thuận dàn xếp ngoài tòa án, ba sinh viên Harvard nhận một khoản tiền đền bù lên đến 65 triệu đô-la mặc dù Mark khẳng định anh không ăn cắp ý tưởng của ai cả. Đây là câu chuyện vào những ngày đầu tiên đó, theo tường thuật của Silicon Alley Insider .

Để tôi làm thử xem sao

Mùa thu năm 2003, hai anh em Cameron Winklevoss, Tyler Winklevoss cùng người bạn tên Divya Narendra, tất cả đang là sinh viên năm cuối đại học Harvard đang cần tìm một lập trình viên chuyên thiết kế trang web để biến một ý tưởng của họ thành hiện thực. Đó là ý tưởng của Divya nảy sinh vào năm 2002: làm một mạng xã hội cho sinh viên và cựu sinh viên Harvard, dự tính đặt tên là HarvardConnections.com.

Trước đó họ đã nhờ một sinh viên Harvard khác nhưng anh này từ chối và giới thiệu Mark Zuckerberg, một sinh viên năm hai nhưng đã khá nổi tiếng vì đã xây dựng trang web Facemask. Facemask từng đẩy Mark vào chỗ gặp phiền toái vì trang web này chuyên lấy hình ảnh của sinh viên Harvard từ website chính thức của nhà trường rồi xếp từng cặp ảnh với nhau. Người xem có thể bình chọn ảnh của người nào là hấp dẫn hơn, rồi tổng hợp thành danh sách sinh viên Harvard theo mức độ hấp dẫn theo đánh giá của bạn bè. Facemask ngay lập tức trở thành một hiện tượng trong giới sinh viên, sau hai tuần có đến 22.000 lượt bình chọn. Trong lúc đó nhiều sinh viên Harvard khác nổi giận, lôi Mark ra trước hội đồng kỷ luật của sinh viên vì tội vi phạm an ninh mạng, vi phạm bản quyền, vi phạm tính riêng tư của cá nhân.

Lúc được giới thiệu làm ăn với ba người định khai sinh HarvardConnections, Mark đồng ý hẹn gặp. Tối ngày 30-11-2003, bốn người hẹn nhau tại một nhà ăn trong khuôn viên trường; Cameron, Tyler và Divya lần lượt trình bày ý tưởng của mình – xây dựng trang web HarvardConnections, lúc đầu giới hạn cho những ai có địa chỉ email harvard.edu tham gia và sau đó mở rộng ra các trường đại học ở Mỹ. Mark tỏ vẻ thích thú với ý tưởng này.

Ngay tối hôm đó, Mark gởi email cho ba người, nói rằng đã đọc những tài liệu ba người vừa gởi và vì cấu trúc trang web không phức tạp lắm nên hứa sẽ bàn tiếp sau khi phác thảo xong hình hài trang web ngay tối mai. Ngày hôm sau, Mark gởi thư tiếp cho nhóm HarvardConnections, cho biết đã soạn xong hai trang đầu, phần đăng ký làm thành viên, đang sửa lỗi và sẽ thông báo tiếp khi trang web hoạt động hoàn chỉnh.

Ngược lại với hai thư ban đầu này, chỉ mấy ngày sau đó, thư của Mark chuyển giọng, không còn sự hào hứng thực hiện ngay ý tưởng đã bàn mà tìm mọi lý do trì hoãn, như bận học, bận làm bài tập. Mọi nỗ lực liên lạc của nhóm với Mark không thành công và cuối cùng đến ngày 8-1-2004, Mark gởi thư cáo lỗi với các lý do bận rộn như từng viết và nói thêm là trang web chưa có đủ chức năng cần thiết để hấp dẫn người dùng.

Nghiên cứu các thư từ email trao đổi trong thời gian này, tờ Silicon Alley Insider kết luận đồng ý với cáo buộc của nhóm HarvardConnections là Mark Zuckerberg tìm cách trì hoãn việc phát triển mạng HarvardConnections để anh ta tự mình xây dựng một mạng tương tự và tung ra trước nhằm cạnh tranh. Tờ báo này cho biết các email nói trên thì đã được công khai từ lâu sau vụ kiện; kết luận của họ còn dựa vào những trao đổi tin nhắn (chat) giữa Mark với bạn bè người thân trong giai đoạn này. Như trao đổi giữa Mark và bạn đồng lớp, người sau này trở thành đồng sáng lập Facebook - Eduardo Saverin vào ngày 7-12-2003.

Họ chọn nhầm người – haha

Cựu tổng giám đốc PayPal thường được cho là nhà đầu tư đầu tiên bỏ tiền vào Facebook với khoản tiền 500.000 đô-la vào tháng 9-2004 nhưng thật ra người tài trợ cho Mark ngay từ đầu là Eduardo. Đây là một sinh viên giàu có hay ít nhất bề ngoài của anh ta cho mọi người cảm giác như thế. Eduardo đồng ý bỏ ra 15.000 đô-la để đổi lại 30% cổ phần trong công ty Facebook sẽ thành lập. Và những ngày đầu khởi nghiệp đó, hai bên trao đổi tin nhắn thường xuyên. Mark kể cho Eduardo chuyện ba người trong nhóm HarvardConnections mời tham gia như thế nào, xong rồi viết: “Nhưng họ đã chọn sai, haha. Họ chọn chính tớ để làm dự án này. Cho nên tớ sẽ trì hoãn để mạng này không thể làm xong cho đến khi cái dự án facebook ra đời”.

Như thế, tờ Silicon Alley Insider kết luận, trong vòng một tuần sau khi gặp nhóm HarvardConnections, Mark đã có ý tưởng tự mình phát triển một mạng xã hội tương tự và cũng đã đề ra kế hoạch ngăn cản đối thủ: trì hoãn việc lập trình dù được thuê thực hiện.

Một vài tuần sau đó, Mark lại họp với bộ ba Cameron, Tyler và Divya nhưng không phải ở nhà ăn mà là khu nội trú của Mark. Phòng của Mark có hành lang hẹp nối với các phòng khác. Khi Cameron và Tyler ngồi xuống trong phòng của Mark, Cameron thoáng thấy ngoài hành lang một tấm bảng trắng có ghi dòng chữ Harvard Connection, loại bảng mà nhà lập trình thường dùng để vẽ sơ đồ ý tưởng trang web. Nhưng khi Cameron đứng lên bước ra để nhìn cho rõ thì Mark yêu cầu Cameron không được vào hành lang.

Mark cũng thường xuyên trao đổi tin nhắn với một người bạn khác tên Adam D'Angelo. Cả hai học trường nội trú Phillips Exeter Academy và trong thời gian này, hai người hợp tác viết phần mềm nghe nhạc MP3 Synapse, có khả năng học sở thích của người dùng và đưa ra gợi ý thông minh. Tốt nghiệp trung học, Mark vào Harvard còn Adam vào trường Cal Tech nhưng hai người duy trì liên lạc thường xuyên. Sau này Adam vào làm Kỹ sư trưởng cho Facebook. Đọc những trao đổi qua chat giữa hai người, Silicon Alley Insider một lần nữa kết luận Mark song song làm hai dự án, Facebook của riêng mình và cố ý trì hoãn HarvardConnections để tiêu diệt đối thủ tiềm năng. Mặc dù Adam khuyên Mark nên từ chối thẳng nhóm HarvardConnections, Mark cho rằng nhóm này rất có tiềm năng, cả về lập trình và tài chính hỗ trợ nên ngại nếu cả hai ra đời cùng lúc thì tất cả đều thất bại.

Tớ sẽ chơi họ

Ngày 14-1-2004, Mark lại họp với nhóm HarvardConnections, có vẻ như lần gặp nhau cuối cùng. Lúc này Mark chưa làm xong Facebook nhưng đang nỗ lực hết sức, lấy tiền từ Eduardo để thuê máy chủ, đăng ký tên miền thefacebook.com… Vấn đề còn lại là có nên nói thẳng cho ba người kia chưa hay vẫn lần lữa chờ cho xong mạng Facebook. Mark đã nỏi ý kiến của một người bạn – bạn khuyên “không nên làm điều xấu cho ai cả”. Mark vẫn khẳng định: “Tớ sẽ chơi họ”. Lần gặp ngày 14-1, Mark vẫn chưa từ chối hẳn dự án HarvardConnections trong khi nhấn mạnh anh không có thời gian làm ngay. Mark cũng không tiết lộ gì về Facebook.

Ngày 4-2-2004, Mark công khai dự án Facebook, lúc đó có địa chỉ thefacebook.com; ngày 10-2-2004, Cameron gởi thư cho Mark, cáo buộc anh vi phạm hợp đồng và ăn cắp ý tưởng. Cuối tháng 5-2004, sau khi làm việc với hai nhà lập trình mới, nhóm HarvardConnections cũng cho ra đời mạng ConnectU, kết nối 15 trường với nhau nhưng không đạt được bất kỳ thành công nào.

Thực tế

Thực tế thì sau khi Mark khai sinh Facebook, mạng xã hội này đã nhanh chóng trở thành một hiện tượng trong giới sinh viên. Hè năm 2004, Mark bỏ học, chuyển sang California để điều hành Facebook toàn thời gian. Đến tháng 8-2005, mạng xã hội chính thức chuyển địa chỉ từ thefacebook.com sang facebook.com sau khi mua lại địa chỉ này với giá 200.000 đô-la. Mọi chuyện sau đó về sự phát triển kỳ diệu của Facebook thì ai cũng đã biết. Tháng 10-2007, Microsoft cho biết họ đã mua 1,6% cổ phần Facebook với giá 240 triệu đô-la, tức tính ra tổng giá trị của Facebook là chừng 15 tỷ đô-la Mỹ. Cho đến nay Mark vẫn chưa bán Facebook cho ai và cũng chưa chịu đưa Facebook niêm yết trên thị trường chứng khoán. Thông tin mới nhất cho rằng doanh thu hàng năm của Facebook có thể lên đến 1 tỷ đô-la nhờ quảng cáo.

Về vụ kiện tụng chung quanh những ngày đầu ra đời Facebook, tờ Silicon Alley Insider cho rằng không có bằng chứng giấy trắng mực đen nào về hợp đồng hợp tác giữa Mark Zuckerberg và nhóm HarvardConnections. Những ràng buộc nếu có cũng chỉ ở dạng email hay chat mà tòa án từng kết luận chỉ là “tán gẫu trong khu nội trú”. Cùng lúc với việc tiếp cận ý tưởng của nhóm HarvardConnections, Mark cũng đã thai nghén ý tưởng cho mạng xã hội Facebook, dù hướng đến cùng một đối tượng nhưng cách triển khai có nhiều khác biệt. Tuy nhiên, Mark đã cố ý trì hoãn việc thực hiện mạng HarvardConnections với ý đồ cạnh tranh. Vì thế Silicon Alley Insider kết luận khoản tiền bồi thường 65 triệu đô-la mà Facebook trả cho ba người Cameron, Tyler và Divya là xứng đáng, thậm chí còn quá hào phóng vì thời gian diễn ra tranh cãi này chỉ kéo dài trong khoảng 2 tháng trong khi Mark đã mất đến 6 năm mới xây dựng Facebook được như ngày nay.

Tuy vậy, Silicon Alley Insider cũng chê trách Mark đã sử dụng những chiêu thức không hay ho gì khi sử dụng thông tin truy cập Facebook để xâm nhập tài khoản của các phóng viên tờ báo sinh viên của trường Harvard khi họ đang điều tra vụ kiện nói trên. Nhưng đây là một câu chuyện khác, sẽ được lược thuật ở một dịp khác.

Thứ Tư, 7 tháng 4, 2010

Nhiễu thông tin

Nhiễu thông tin

Một khi xảy ra tình trạng nhiễu thông tin, việc trước tiên cần làm là xem lại nguồn tin gốc.

Cuối tuần trước Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho đăng tải trên website của mình tin “Dừng cung cấp thông tin liên quan khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu”. Nội dung tin cho biết, ngày 30-3-2010, NHNN có văn bản gởi các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam đề nghị dừng cung cấp thông tin liên quan khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.

Ngay sau đó, một số trang tin ở nước ngoài bình luận theo hướng NHNN từ chối nhận thông tin với ý muốn che giấu thông tin, rằng NHNN không muốn nhận những dự báo gây nhiễu như một dự báo của một ngân hàng nước ngoài về việc lãi suất cơ bản ắt phải tăng trong thời gian tới…

Làm gì có chuyện đó! Nguyên do là vào tháng 9-2008, NHNN có đề nghị các chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cung cấp các thông tin về diễn biến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới. Tần suất cung cấp thông tin là trước 11g30 thứ Sáu hằng tuần, bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt.

Đây là một gánh nặng sự vụ hành chính nên khi tình hình kinh tế thế giới ổn định, NHNN ắt phải dừng yêu cầu nói trên mà nghe đâu các ngân hàng nước ngoài đã thực hiện tốt.

Còn chuyện các ngân hàng thường có các báo cáo phân tích, dự báo về tình hình kinh tế Việt Nam là do họ thực hiện cho khách hàng của họ, không liên quan gì đến yêu cầu nói trên. NHNN có hay không có yêu cầu, họ vẫn sẽ tiếp tục cung cấp thông tin cho khách hàng, chủ yếu là các quỹ đầu tư. Chuyện các báo cáo này được tung ra bên ngoài là chuyện khác nữa.

Rõ ràng một chủ trương bình thường nhưng thông tin không khéo hóa ra phản tác dụng, gây nhiễu thông tin.

* * *

Một thông tin khác mới nhìn qua, có vẻ như bị nhiễu nhưng thật ra là do chưa làm đúng nguyên tắc. Cuối tuần trước, các báo đưa tin Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thôi kiêm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo và đã bàn giao công việc lãnh đạo bộ cho Thứ trưởng thường trực Phạm Vũ Luận và các thứ trưởng khác.

Sau đó cũng có báo đăng tin, rằng Văn phòng Chính phủ cho biết họ chưa nhận được thông tin chính thức về việc Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân thôi giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục-Đào tạo.

Theo nguyên tắc, Quốc hội là nơi phê chuẩn việc bổ nhiệm hay miễn nhiệm chức danh bộ trưởng theo đề nghị của Thủ tướng. Khi nào Quốc hội chưa họp, chưa bỏ phiếu thì ông Nhân vẫn là Bộ trưởng Bộ Giáo dục-Đào tạo, phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội về mọi mặt cho nền giáo dục nước nhà. Chẳng hạn, nếu trong kỳ họp sắp tới, Quốc hội bàn đến báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đối với giáo dục đại học mà Ủy ban thường vụ Quốc hội vừa đưa ra lấy ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu giáo dục thì ông Nhân phải ra giải trình với tư cách là bộ trưởng. Việc phân công cho các thứ trưởng, kể cả Thứ trưởng thường trực Phạm Vũ Luận chỉ là công việc nội bộ, tạm thời, không thể mang tính chính thức.

* * *

Chuyện nhiễu thông tin sau cùng được đề cập ở đây liên quan đến “dự án Gởi tới mai sau”. Đầu tiên là phản ứng không đồng tình của nhiều nhà văn hóa về dự án lựa chọn 1.000 vật phẩm tiêu biểu có giá trị đặc trưng cho mỗi địa phương và cả nước, bỏ vào trong thiết bị lưu giữ, chôn xuống lòng đất để gửi tới các thế hệ mai sau. Tuần trước, ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội khẳng định không thực hiện dự án này mà ông cho chỉ là ý tưởng của cá nhân sau khi phê bình Sở Văn hóa-Du lịch-Thể thao Hà Nội triển khai dự án khi chưa có sự phê duyệt của thành phố.

Thế nhưng ban tổ chức dự án cãi lại, họ thực hiện dự án theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, cơ sở pháp lý của dự án là các quyết định của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng - Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long ký phê duyệt Đề cương các hoạt động tiến tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội và của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký phê duyệt Chương trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội năm 2010.

Cái này thì thật sự là nhiễu thông tin. Ở đây chúng ta không bàn đến việc dự án “Gởi tới mai sau” có ý nghĩa hay chỉ là chuyện vô bổ mà chỉ bàn đến khía cạnh phát ra thông tin từ chính quyền. Nếu dự án chính thức nằm trong chương trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội thì chính quyền Hà Nội phải biết chứ không thể cho đó là ý tưởng cá nhân hay dự án chưa có sự phê duyệt. Ngược lại, ban tổ chức dự án nếu cho rằng quy trình thực hiện và đề cương dự án đã được phê duyệt từ bốn năm trước thì phải chứng minh bằng giấy tờ và phải cho biết vì sao bốn năm qua không triển khai gì cả. Một thành phần nhỏ trong chương trình kỷ niệm mà đã nhiễu thông tin như vậy thì thật khó lòng yên tâm khi triển khai hàng chục dự án lớn khác.

Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2010

Cuộc đua xuống đáy

Cuộc đua xuống đáy

Ai mà chẳng thích đọc những gì liên quan đến tình dục. Đó là chuyện bản năng, không tránh được. Nhưng nếu cứ lấy tình dục làm vũ khí cạnh tranh như hiện nay giữa các tờ báo mạng, đấy là cuộc đua kéo nhau xuống đáy, không có lối thoát.

Có người hỏi tôi sự khác nhau giữa quản trị doanh nghiệp (corporate governance) với điều hành công ty (company management), hai khái niệm thường bị lẫn lộn, tôi chợt nghĩ đến chuyện làm báo như một ví dụ dễ hiểu.

Cứ giả dụ tờ báo là một doanh nghiệp và tòa soạn được giao điều hành công ty này. Nếu chỉ lấy các chỉ tiêu như bán cho được báo, thu hút nhiều độc giả vào đọc và bán cho được nhiều quảng cáo, tạo được doanh thu cao, việc điều hành tờ báo sẽ rất đơn giản. Đăng càng nhiều chuyện tình dục rồi tin bài nào cũng rút tít cho giật gân lên, chú tâm khai thác chuyện xì-căng-đan ở các ngôi sao giải trí, lượng phát hành hay lượng người vào đọc sẽ tăng vùn vụt. Lượng phát hành hay lượng người đọc cao sẽ kéo theo quảng cáo tăng. Thậm chí ban điều hành lúc đó cứ đăng tin bài mang tính quảng cáo cho bất kỳ ai trả tiền thì doanh thu làm sao không tăng. Đấy là điều hành công ty.

Nhưng tờ báo còn liên quan đến nhiều thành phần khác (tiếng Anh trong quản trị kinh doanh gọi là stakeholders) như độc giả, chính quyền, người lớn, trẻ em, nhà giáo dục… đủ cả. Họ đều có quyền định hướng cho tờ báo sao cho nó phục vụ lợi ích chung cho tất cả mọi người chớ không phải riêng lợi ích vật chất của người làm báo. Vậy nên mới có chuyện quản trị doanh nghiệp. Chuyện quản trị này sẽ dựa vào những chuẩn mực xã hội, quy định của luật pháp, quy ước đạo đức nghề nghiệp của nhà báo hay tôn chỉ mục đích của tờ báo đặt ra để ràng buộc lẫn nhau và định hướng đi cho tờ báo.

Đó là nói chuyện lý thuyết còn thực tế đơn giản hơn nhiều. Làm báo ai mà không xuất phát từ một hoài bão làm gì đó cho cuộc sống ngày càng tốt hơn, ai mà không có ước muốn tờ báo của mình có những bài viết sắc sảo. Cạnh tranh bằng những chiêu thức như khai thác chuyện tình dục, hình ảnh mát mẻ hay cố ý gây sốc là chuyện “chẳng đặng đừng”, chắc người chủ xướng hay người viết ít nhiều đều cảm thấy xấu hổ.

Nhưng nếu ai cũng lấy cái khó của thị trường hiện nay để biện minh rằng, thôi thì cố nuôi sống tờ báo cái đã, sau đó sẽ giảm dần liều lượng “lá cải”, ai cũng phân bua nếu cứ viết cho đàng hoàng vào thì không ai chịu vô đọc cả, ai cũng chỉ “tươi mát” hơn đối thủ cạnh tranh “một chút xíu thôi”… đấy chính là cuộc đua xuống đáy!

Nếu để ý, các bạn sẽ thấy liều lượng “lá cải” trên các báo mạng ngày càng tăng – đấy là do cạnh tranh “thêm một chút” cộng với “thêm một chút” – hàng ngày, hàng giờ. Rồi như con bạc tháu cáy, sự xấu hổ nói ở trên sẽ biến mất, thay vào đó là sự hùng hổ ganh đua xem ai “gây sốc” nhiều hơn ai.

Hiệu ứng thì ai cũng đã rõ. Uy tín báo chí đang ngày càng xuống thấp. Độc giả cũng tò mò vô đọc (tôi cũng đọc) nhưng vừa đọc vừa chửi sao báo chí ngày càng xuống cấp. Điều đáng ngại nhất là nghề nghiệp làm báo sẽ theo đó lụi tàn dần – đầu tiên là lẫn tránh các đề tài khó, xong rồi tự dễ dãi với các bài viết vô thưởng vô phạt và cùng nhau cạnh tranh theo lối ai “lá cải” hơn ai.

Lối thoát cho lối cạnh tranh xuống đáy này có còn đó không? Theo tôi là vẫn còn. Stakeholder quan trọng nhất là nhà nước thì hình như phó mặc miễn sao các báo đừng nhảy vô các đề tài nhạy cảm thì không sao. Nhưng các stakeholders khác đều có vai trò quan trọng: người đọc phải biết tẩy chay, giới quảng cáo phải biết từ chối quảng cáo, đồng nghiệp phải cùng nhau lên tiếng để giữ uy tín chung cho làng báo. Hơn ai hết, nếu những người đang chủ trương “lá cải hóa” ngồi lại với nhau, đặt ra những giới hạn không thể vượt qua thì tình hình sẽ cải thiện lên nhiều. Như đã nói ở đầu, đây không phải là vấn đề đạo đức (vì tôi thừa nhận ngay từ đầu là mình cũng tò mò thích đọc như bao người khác) - đây là vấn đề tương lai của báo chí khi cạnh tranh sai đường.

Bài đăng phổ biến