Thứ Sáu, 15 tháng 11, 2013

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau


Người hói đầu thường rất ghét từ bald nhưng nếu bạn tả họ chỉ hơi thin on top là họ hài lòng ngay. Đây chỉ là một trong muôn ngàn ví dụ cho việc tránh dùng từ chính xác vì những lý do tế nhị. Trong tiếng Việt ít khi ta nói toạc móng heo vì sợ phiền lòng người nghe thì trong tiếng Anh, người ta cũng tránh call a spade a spade nhất là trong giao dịch trên thương trường. Lối nói khéo này trong tiếng Anh gọi là euphemism (được định nghĩa là the substitution of a mild, bland, inoffensive expression for a blunt or harsh one).
Thường gặp nhất là trên các cáo phó; thay vì nói thẳng “somebody has died”, văn cáo phó dùng to depart this life, to pass away. Sau đó là các tính từ miêu tả thân thể người ta. Thay vì chê một người nào đó gầy gò (skinny)ta có một loại từ để chọn lựa, vừa chính xác, vừa dễ lọt tai hơn như lean, slender. Trong câu “an old man, very tall and spare, with an ascetic aspect” thì spare mang nghĩa tốt như kiểu “She has the spare figure of a marathon runner”. Tệ lắm thì dùng lanky (theo kiểu gầy mà thanh) chứ ai lại dùng những từ chỉ cảnh gầy trơ xương như skinny, scrawny, hay gaunt như câu “He had a long, scrawny neck that rose out of a very low collar”.
Chê một người chậm hiểu, thay vì dùng từ stupid ta có thể nói nhẹ nhàng, rằng anh ta hơi slow in his thinking. Kể chuyện bà xã có bầu nên dùng expecting hơn là pregnant. Ít ai dùng từ fat một cách thẳng thừng mà nên tả một cô trông portly hay stout. Hay nhất là dùng plump như trong câu a plump, rosy little girl. Nói chung những người bị khuyết tật thân thể không còn bị gọi là handicapped nữa. Họ chỉ là những người differently-abled mà thôi.
Trong ngoại giao, cách nói euphemism cũng rất thường được áp dụng. Như vụ các bà người Hàn Quốc bị lính Nhật bắt làm “comfort women” trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ hai. Hay như trước đây phương Tây thường chia thế giới làm hai loại quốc gia: phát triển (developed) và kém phát triển (underdeveloped) sau bị phản đối dữ quá nên mới đổi lại là developing (đang phát triển). Nói tóm lại, đây là những từ được xem là phải đạo (politically correct).
Có những từ nghe qua phải được chính giới ngoại giao dịch lại người ta mới hiểu; ví dụ the disadvantaged để chỉ người nghèo, underachievers để tả những người lười biếng, không chịu vươn lên, senior citizens là những người già lão, disturbed dùng cho những kẻ bị tâm thần.
Cũng do đó, những từ chỉ nghề nghiệp hàm ý coi nhẹ đều được đổi lại trong những năm gần đây. Secretary thành executive assistant; air hostess hay stewardress trở thành flight attendant; người quét đường từ street-sweeper hay garbage man thành sanitation engineer; gate-keeper thành security guard và bà đỡ - midwife thành birth assistant.
Trong phong trào phụ nữ bình đẳng với nam giới, các bà đã đòi thay hết những từ có chữ man thành person như chairman - chairperson; salesman - sales representative; mailman - mail carrier; fireman - firefighter. Thậm chí từ nhân loại - human race vì có man nên bị đề nghị đổi thành people và có người cực đoan đến độ đòi viết từ women thành womyn và housewife được thay bằng home maintenance engineer! Dĩ nhiên trong thực tế đâu có ai nói như thế.
Thế nhưng có những thay đổi đã được nhiều người chấp nhận nhất là những từ liên quan đến vấn đề chủng tộc. Ngày nay đến Mỹ bạn sẽ không còn nghe từ American Indians để chỉ người dân da đỏ ở đây nữa, thay vào đó là Native American. Nếu ngày xưa đọc trong tiểu thuyết đôi lúc bạn bắt gặp từ nigger với ý miệt thị người da đen, bây giờ nếu xài từ đó hay thậm chí từ negro ở New York, bạn rất dễ bị đòn hội chợ. Nên tả họ bằng từ African (Afro-) Americans. Dân Eskimo cũng bị xúc phạm nếu bạn gọi họ bằng cái tên quen thuộc này, ngày nay họ được gọi là Inuit.
--------------
Trích từ cuốn “Chuyện Chữ & Nghĩa” vừa xuất bản trên Smashwords:

Mua ở Amazon: https://www.amazon.com/dp/B00GOWZE18


Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Báo chí trong vòng xoáy kinh tế

Báo chí trong vòng xoáy kinh tế

Câu chuyện cơ quan chủ quản của tờ Thế giới mới xin giải thể tờ tạp chí này vì khó khăn tài chính đã gián tiếp đặt ra nhiều vấn đề cho nền báo chí Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nhất là ở góc cạnh kinh tế.

… Thế giới mới là tờ báo của ngành giáo dục với cơ quan chủ quản là Nhà xuất bản Giáo dục. Đây là một mô hình có nhiều bất cập, khó lòng để cho Thế giới mới nhảy vào các vấn đề tiêu cực đang nóng của ngành giáo dục, đang được các báo khác đề cập một cách đậm nét. Lý do ai cũng hiểu là không lẽ một tờ báo của ngành giáo dục lại đăng bài phê phán chính ngành mình! Mà một tờ báo của ngành lại không nói gì về ngành đó cả (nói theo nghĩa bàn cho cặn kẽ các vấn đề nổi lên) thì chắc chắn trước sau gì độc giả cũng quay lưng. Đã vậy không trông mong gì Thế giới mới có bài khách quan về hoạt động của NXB Giáo dục!

Đây không phải là hiện tượng riêng lẻ với Thế giới mới mà xảy ra với đa phần các tờ báo hiện nay. Một tờ báo của Bộ Y tế khó lòng nêu lên những yếu kém của bộ máy quản lý ngành; một tờ báo của Hà Nội khó lòng làm phóng sự về những lỗ hổng trong quản lý đô thị tại thủ đô….

Nói sao thì nói, tiền ngân sách rót cho các tờ báo của ngành, của địa phương mà ngành và địa phương chỉ xem báo như công cụ để đánh bóng cho bản thân mình thì ngân sách đã bị lãng phí. Cách hay nhất là chấm dứt mọi sự trợ cấp của ngân sách cho báo chí, chuyển các tờ báo cho các hội đoàn quản lý với cơ chế tài chính tự chủ - tự khắc nhiều vấn đề của làng báo sẽ được giải quyết….



Bài giới thiệu cuốn "Vàng và hai cô gái" trên Tuổi Trẻ (Lam Điền):

Bài giới thiệu trên Thanh Niên:

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131119/nghich-ly-choi-chung.aspx

Mua sách ở Vinabook:

Bài về báo chí Việt Nam đăng trên Asia Sentinel: Vietnam's Press Turns Partly Private

http://www.asiasentinel.com/politics/vietnam-press-turns-partly-private/

Bài trên TTCT: Loay hoay làm gì?

http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Van-hoa-nghe-thuat/580337/loay-hoay-lam-gi.html


Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Có mấy Vinashin?

Có mấy Vinashin?

Có một hiểu nhầm dai dẳng về cụm từ “tập đoàn kinh tế” kéo dài mãi cho đến nay do chính sự lỏng lẻo trong quy định đặt tên doanh nghiệp. “Tập đoàn kinh tế” thường được hiểu theo nghĩa là nhóm công ty liên kết dưới hình thức công ty mẹ - công ty con, được hình thành theo một quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ mang tính thí điểm. Nhưng đồng thời “tập đoàn kinh tế” còn bị nhầm sang công ty mẹ bởi khi thành lập, công ty mẹ cũng được mang danh tập đoàn, gây ra những hiểu nhầm và sai lệch. Trong khi “tập đoàn kinh tế” theo nghĩa đầu tiên không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký thành lập theo Luật Doanh nghiệp, “tập đoàn kinh tế” theo nghĩa thứ nhì có tư cách pháp nhân, được đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Lấy ví dụ, với tập đoàn Vinashin, có hai quyết định thành lập liên quan. Đầu tiên là Quyết định 103/2006/QĐ-TTg, ngày 15-5-2006 do Thủ tướng Phan Văn Khải ký, phê duyệt đề án thí điểm hình thành tập đoàn Vinashin, trong đó liệt kê rõ công ty mẹ là ai, các công ty con gồm những doanh nghiệp nào... Trong cùng ngày đó, với Quyết định 104/2006/QĐ-TTg cũng do Thủ tướng Phan Văn Khải ký, công ty mẹ được thành lập, lại được cho phép mang tên “Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam” tức là tập đoàn Vinashin trên cơ sở tổ chức lại Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam.

Thế là từ đó tập đoàn Vinashin ra đời, ai ưa hiểu Vinashin nào cũng được: Vinashin là cái tập đoàn mang tính thí điểm cũng đúng mà Vinashin là tập đoàn công ty mẹ cũng không sai. Chỉ có điều cái Vinashin đầu, do không có tư cách pháp nhân, nên hầu như không được ký kết, vay mượn hay đứng ra làm gì chính thức cả. Tất cả đều do Vinashin sau làm nhưng lấy danh nghĩa Vinashin đầu. Quy mô, bộ máy của hai cái này khác nhau.

Sau này khi tất cả các doanh nghiệp nhà nước phải đăng ký lại để hoạt động dưới một Luật Doanh nghiệp chung thì công ty mẹ được chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nhưng vẫn được mang tên “Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam” như cũ (Quyết định 984/QĐ-TTg, ngày 25-6-2010 do Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ký).

Dù sao chuyện nhầm lẫn giữa hai thực thể này cũng đã qua. Vấn đề là nay giải thể tập đoàn Vinashin có nghĩa là sao?

Chuyện này đã có tiền lệ. Năm ngoái khi kết thúc thí điểm hai tập đoàn ngành xây dựng gồm Tập đoàn Công nghiệp xây dựng Việt Nam (VNIC) và Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam (HUD), Thủ tướng Chính phủ đều ra quyết định kết thúc thí điểm. Quyết định kết thúc thí điểm có hai nhiệm vụ về mặt pháp lý: một là chấm dứt việc thí điểm hình thành tập đoàn và hai là giao Bộ chủ quản bên dưới thành lập tổng công ty trên cơ sở tổ chức lại công ty mẹ (mang tên tập đoàn).

Nay với Vinashin, cũng phải trải qua bước thủ tục này. Thủ tướng Chính phủ phải có quyết định chấm dứt việc thí điểm (tức xóa bỏ Quyết định 103 cũ) và giao Bộ Giao thông Vận tải thành lập Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (tức xóa Quyết định 104 cũ).

Tuần trước khi Bộ Giao thông Vận tải ra quyết định thành lập doanh nghiệp mới mang tên SBIC thay chỗ cho Vinashin (dù tên tiếng Việt chỉ đổi từ tập đoàn thành tổng công ty) chính là bước thứ nhì nói trên trong khi bước thứ nhất chưa có. Nhiều nguồn tin nói việc này đã được thực hiện trong Quyết định 2108/QĐ-TTg ngày 18-11-2010 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký, phê duyệt đề án tái cơ cấu tập đoàn Vinashin.

Dù sao đây chỉ là bước thủ tục. Điều quan trọng là kể từ khi có chủ trương thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước vào năm 2005 đến nay đã 8 năm, từ chỗ 12 tập đoàn kinh tế lần lượt ra đời rồi 3 tập đoàn đã giải thể, chưa hề có một sự tổng kết chính thức về mô hình thí điểm này. Thiết nghĩ trước khi giảm số lượng các tập đoàn còn chừng 5 hay 7 cái như chủ trương đã công bố, cần tổng kết cái được và cái không được của mô hình. Đặc biệt rút kinh nghiệm hai chuyện: 1/chuyện Vinashin nhận tiền vay của nước ngoài (600 triệu đô-la) và tiền Chính phủ bán trái phiếu quốc tế giao cho Vinashin (750 triệu đô-la) về chia nhau giữa công ty mẹ và công ty con như thế nào; và 2/việc nhầm lẫn giữa hai thực thể, cái khái niệm tập đoàn không có tư cách pháp nhân và thực thể tập đoàn là công ty mẹ để ngay lập tức chấn chỉnh các tập đoàn hiện đang còn tồn tại. Ít nhất là việc đặt tên, phải tách bạch để khỏi gây nhầm lẫn trong giao dịch.




Thứ Tư, 6 tháng 11, 2013

Vàng và hai cô gái


Vàng và hai cô gái

Sách vừa được NXB Trẻ phát hành. Xin giới thiệu nội dung tóm tắt qua lời giới thiệu ba phần của cuốn sách.

Phần 1: Thịnh suy toàn cầu hóa

Trước lúc Việt Nam gia nhập WTO, có thể nói toàn cầu hóa là một khái niệm thời thượng trong một thời gian dài, được phổ biến bởi các cuốn sách bán chạy như “Thế giới phẳng”, “Chiếc Lexus và cây Ôliu” của Thomas Friedman. Ai cũng rao giảng về toàn cầu hóa như một liều thuốc thần kỳ hứa hẹn chữa hết mọi căn bệnh của nhân loại như nghèo đói, chiến tranh, bệnh tật, bất công, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế.... Cùng với sự bùng nổ của thương mại quốc tế, việc dịch chuyển dòng vốn đầu tư cũng như cơ sở sản xuất hàng hóa sang các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc thật sự đã tạo ra những thay đổi sâu rộng trong đời sống hàng trăm triệu con người. Bên cạnh đó các tiến bộ nhanh chóng trong công nghệ thông tin và viễn thông đã làm cho ngôi làng toàn cầu thu nhỏ lại.

Nhưng khủng hoảng tài chính toàn cầu đã nổ ra vào năm 2008. Mọi giá trị được truyền bá bấy lâu bỗng chốc bị đảo ngược. Mặt trái của toàn cầu hóa, từng được phân tích trước đó nhưng ít thuyết phục được ai, nay bỗng bộc lộ rõ nét; lòng tham của giới tài chính, sự khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên bất kể ô nhiễm môi trường, việc chạy đua sản xuất hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu được thổi phồng lên của người tiêu dùng - tất cả đã dẫn đến những loại bong bóng, từ bất động sản đến tài sản tài chính. Và bỗng chốc không còn ai nhắc đến toàn cầu hóa với ý nghĩa như trước nữa.

Loạt bài trong phần này đi vào chi tiết cái quá trình được tóm gọn ở trên. Được viết dưới dạng báo chí, các bài trong phần này như một cuốn nhật ký ghi lại sự thăng trầm của toàn cầu hóa, sự trăn trở của con người khi cố gắng quay về các giá trị cũ và sự loay hoay đi tìm một mô hình phát triển mới bền vững hơn.

Phần 2: Việt Nam trong cơn lốc xoáy

Một điều đáng ngạc nhiên là con đường phát triển của Việt Nam trong gần chục năm qua dường như đi theo sự thăng trầm của toàn cầu hóa. Trong nhiều năm liền, với chính sách mở cửa về kinh tế, thay đổi luật lệ để đáp ứng các yêu cầu gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam có những bước chuyển biến sâu rộng. Khu vực tư nhân bừng nở, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giúp hiện thực hóa chính sách sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu. Tất cả mở rộng đường để Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO. Toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại không còn là những khái niệm mơ hồ nữa. Chúng đã biến thành kim ngạch xuất khẩu hàng vào Mỹ tăng vọt, thành hạt gạo, quần áo, giày dép, con tôm con cá xuất đi khắp thế giới.

Thế nhưng, cùng lúc, lòng tham cũng nổi dậy. Đồng tiền dễ kiếm đã được đổ vào bất động sản và đến lượt nó bất động sản đẻ ra tiền như con gà mái thần kỳ, làm giàu cho nhiều người trong một thời gian ngắn. Vậy là không còn ai có tâm trí lo chuyện sản xuất cây kim, sợi chỉ nữa, ai nấy đều lo chuyện “lớn” như chứng khoán, kinh doanh ngân hàng, và tất cả đều lao vào địa ốc.

Chênh lệch giàu nghèo lộ rõ, các giá trị xã hội bị đảo lộn, người nông dân dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết và quan trọng hơn cả, các cột trụ của xã hội như giáo dục, y tế bị quên lãng hay bị thương mại hóa.  

Đến khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu ập vào, nền kinh tế ảo của Việt Nam nhanh chóng tan vỡ và nền kinh tế thật suy yếu hơn bao giờ hết. Hậu quả của việc hiểu sai cơ may toàn cầu hóa đem lại như các đại gia địa ốc, chứng khoán từng hiểu vẫn còn kéo dài cho đến hôm nay.

Các bài trong phần này ghi nhận những biến động đó trong những năm gần đây.

Phần 3: Phụ lục

Trong các nhân vật mà người viết từng phỏng vấn, có hai người liên quan nhiều đến toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại. Đó là Paul Krugman và Michael Porter. Đáng tiếc cả hai lần phỏng vấn đều thực hiện qua trao đổi email nên chưa đi đến tận cùng của vấn đề muốn hỏi. Dù sao nội dung của hai bài phỏng vấn cho chúng ta cái nhìn từ xa về toàn cầu hóa và Việt Nam

Bài giới thiệu trên báo Tuổi Trẻ: http://tusach.tuoitre.vn/ArticleView.aspx?ArticleID=580017

Bài giới thiệu trên báo Thanh Niên: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131119/nghich-ly-choi-chung.aspx


Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

Cần nắm những gì?

Hỏi đáp về TPP
Cần nắm những gì?
Cho đến nay với nhiều doanh nghiệp, Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn còn là một khái niệm mơ hồ, một mặt vì thông tin phân tích nhiều quá, không có điểm nhấn; mặt khác, thông tin chính thức lại hầu như không có, làm các vòng đàm phán mang màu sắc bí ẩn. TBKTSG tổ chức phần hỏi đáp sau như một dạng giải đáp thắc mắc mà nhiều doanh nghiệp từng nêu ra với báo. Đây không phải là các câu hỏi đáp chính thức, nó chỉ nhằm cung cấp thông tin ban đầu mà thôi dựa vào ý kiến tư vấn của các chuyên gia cộng tác viên của TBKTSG.
H: TPP là cái gì mà mọi người xôn xao thế?
Đ: TPP về bản chất là một hiệp định thương mại tự do giữa 12 nước (Việt Nam, Brunei, Singapore, Malaysia, Chile, Úc, New Zealand, Peru, Mexico, Canada, Nhật Bản và Mỹ) trong đó các nước thỏa thuận dỡ bỏ các rào cản để thương mại được tự do tối đa. Lấy ví dụ về xuất nhập khẩu hàng hóa, nếu kết thúc đàm phán và ký kết hiệp định vào cuối năm nay như tuyên bố chung của 12 nước này vừa được công bố thì sẽ có trên 90% dòng thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu giữa 12 nước này được hạ mức thuế nhập khẩu xuống bằng 0%. Thương mại trong các lĩnh vực khác cũng như vậy. Bên cạnh đó là những thay đổi, cải cách bắt buộc chung mà 12 nước cần thực hiện nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh và tự do hơn.
H: Nhưng không phải là trước đây Việt Nam từng ký hiệp định thương mại song phương với Mỹ rồi gia nhập WTO để hưởng thuế suất thấp rồi sao?
Đ: Các hiệp định thương mại thông thường (như BTA với Hoa Kỳ hay WTO) chỉ cắt giảm thuế suất (hạ thuế suất), còn các hiệp định thương mại tự do như TPP là loại bỏ thuế suất (0%). Lấy ví dụ hàng dệt may của Việt Nam vào Mỹ, sau khi ký hiệp định thương mại song phương thì thuế suất bình quân giảm còn 17,3%; giữ nguyên mức này sau khi vào WTO (vì đây đã là mức thuế MFN mà Mỹ dành cho các nước thành viên WTO). Nay với TPP thuế suất chỉ còn 0%. Nhờ vậy ngành dệt may kỳ vọng sẽ tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, để đạt mức tăng trưởng 20%/năm.
H: Thế thì cứ ký đi chứ còn chần chờ gì nữa?
Đ: Không đơn giản. Cũng lấy lại ngành dệt may làm ví dụ, để hưởng thuế suất thấp như trên, TPP quy định nguyên liệu như sợi, chỉ, vải... phải có xuất xứ từ các nước thành viên. Trong khi hiện nay nguyên liệu của ngành dệt may Việt Nam chủ yếu mua từ Trung Quốc hay Hàn Quốc, đều không phải là thành viên TPP.
Đàm phán là để tìm cách du di cái đòi hỏi này, và nhiều chuyện khác nữa.
H: Như chuyện gì?
Đ: Quan hệ lao động, sở hữu trí tuệ, đối xử với doanh nghiệp nhà nước, bảo vệ môi trường...
H: Những chuyện này thì đã sao? Dường như cũng giống lộ trình cải cách mà nhiều người từng nói đến?
Đ: Chính xác. Trong lâu dài thì đó là những vấn đề trước sau gì chúng ta cũng phải làm như để công nhân có sự chủ động hơn trong thương lượng với giới chủ về lương tiền, về điều kiện lao động. Bảo vệ môi trường là điều không cần ai gây sức ép, tự chúng ta cũng phải nghiêm khắc hay cải cách doanh nghiệp nhà nước, chúng ta có cả một kế hoạch tái cấu trúc to lớn kia mà. Vấn đề là thay đổi cách tư duy, không xem đó là thử thách mà chúng ta phải đối phó; ngược lại, cần xem đó chính là nhiệm vụ của chúng ta, và xem đàm phán TPP về những vấn đề này như một động lực tốt để chúng ta thực hiện nhiệm vụ của mình tốt hơn, hiệu quả hơn và có công cụ kiểm soát đầy đủ hơn.
H: Chúng ta chỉ mới nói về hướng xuất đi mà chưa tính đến hướng nhập về?
Đ: Đúng rồi. Người ta mở cửa cho hàng Việt Nam thì Việt Nam cũng phải mở cửa cho hàng hóa và dịch vụ của họ. Các ngành tài chính, dịch vụ, bán lẻ nước ngoài tràn vào sẽ gây khó cho các doanh nghiệp còn non trẻ của Việt Nam. Hàng nhập khẩu không thuế hay thuế thấp cũng sẽ chạy đua với hàng nội địa ngay trên sân nhà như điện máy, nông sản, chăn nuôi, hàng công nghiệp...
H: Có cách nhìn nào khác, thay vì chỉ tập trung cân nhắc thiệt hơn trước mắt?
Đ: Với TPP, cái thách thức có thể trở thành cơ hội và ngược lại, cơ hội cũng dễ biến thành nguy cơ. Cho nên ảnh hưởng hay tác động là phải nhìn tổng thể, qua lại, trong nguy có cơ và ngược lại. Ví dụ, yêu cầu nguyên liệu phải từ trong nước hay từ nước thành viên có thể sẽ thúc đẩy một làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam để tận dụng cơ hội thuế quan. Nhìn nó là cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài cũng đúng mà là thách thức cho ngành dệt may thì cũng đúng vì đa phần nguyên liệu tạo ra từ các doanh nghiệp FDI này là để phục vụ cho sản xuất tiếp của chính họ chứ không dành cho doanh nghiệp trong nước. Một ví dụ khác, thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước phải cạnh tranh bình đẳng thì không những nhà đầu tư từ các nước TPP hưởng lợi mà chính doanh nghiệp tư nhân trong nước cũng nhẹ gánh bị phân biệt đối xử; cả nền kinh tế thở phào không còn phải đổ nguồn lực cho doanh nghiệp nhà nước lãnh phí nữa.
H: Phức tạp nhỉ. Vậy nói tóm lại doanh nghiệp phải làm gì?
Đ: Nói chung trước đã định làm gì thì nay cứ tiếp tục làm thế, với cường độ cao hơn, với tư thế cạnh tranh quyết liệt hơn và tư duy dài hạn hơn. Cái quan trọng là rút kinh nghiệm từ giai đoạn sau gia nhập WTO, nhiều người đã không giữ được mình, bỏ sở trường (năng lực lõi) chạy theo sở đoản (địa ốc, ngân hàng, chứng khoán, tài chính) nên sa chân cho đến giờ chưa rút ra được. Lần này thì phải tuyệt đối tỉnh táo nhưng cũng nhạy bén nắm lấy cơ hội nếu đang hướng đến thị trường nước ngoài và chuẩn bị tinh thần cho cuộc đua khốc liệt hơn nếu đang nhắm vào thị trường trong nước.
H: Vậy mà nhiều người nói, kẻ hưởng lợi nhiều nhất từ TPP là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hay sắp vào Việt Nam?
Đ: Chứ còn gì nữa, nếu doanh nghiệp ta không có chuẩn bị, có chiến lược, có kế hoạch dựa trên nghiên cứu kỹ lưỡng như họ.
H: Không lẽ chúng ta đi đàm phán để cuối cùng nhà đầu tư nước ngoài hưởng?
Đ: Đúng là với WTO đã có hiện tượng này. Người lạc quan thì suy nghĩ tích cực thế này: doanh nghiệp FDI thành lập ở Việt Nam cũng là một thành phần của nền kinh tế Việt Nam; doanh nghiệp FDI có mạnh thì mới tạo công ăn việc làm, tạo ra hiệu ứng lan tỏa, giúp xây dựng nền công nghệ phụ trợ, giúp nâng kim ngạch xuất khẩu… Dù vậy, song song đó cần phải có những chính sách nghiêm túc để chống chuyển giá, chống trốn thuế, lỗ giả lời thật trong khu vực FDI. Dần dần, hy vọng rằng doanh nghiệp trong nước phục hồi sẽ vươn ra chiếm thị phần trở lại.
Quan trọng hơn, nếu cửa không mở, thương mại không tự do, thì có thể nhà đầu tư nước ngoài không được hưởng gì nhưng chắc chắn là doanh nghiệp nội địa cũng chẳng có cơ hội mới nào cả, dù là cơ hội mong manh. 

VAMC bán nợ xấu, được không?

VAMC bán nợ xấu, được không?

Tin mừng là theo một chuyên gia kinh tế tài chính quen thuộc, các nhà đầu tư nước ngoài đang sắp hàng để chờ mua nợ xấu do VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) đang gom về từ các ngân hàng. Vị chuyên gia này cho biết: “thậm chí có người đặt mua ngay lập tức với giá trị rất lớn, trong khi VAMC chưa kịp phân loại hàng hoá, chưa kịp tạo ra những phiên đấu thầu về một lô lớn, nên cũng lúng túng” (báo SGTT).

Tin buồn là VAMC, theo một chuyên gia kinh tế tài chính nổi tiếng khác, hoàn toàn chưa thể, hay đúng ra là chưa nên bán nợ xấu cho bất kỳ nhà đầu tư nước ngoài nào. Theo lập của của vị chuyên gia thứ nhì, chúng ta có thể hình dung bức tranh như sau:

Giả dụ VAMC mua một khoản nợ xấu giá trị ghi sổ dư nợ gốc là 100 tỷ đồng với giá 70 tỷ đồng (trừ bớt 30 tỷ đồng là số tiền dự phòng rủi ro đã trích lập cho khoản nợ xấu này). Giả dụ tiếp là có nhà đầu tư nước ngoài đến đặt vấn đề mua khoản nợ xấu này và lẽ dĩ nhiên họ phải mua với giá rẻ hơn nhiều, cứ giả dụ VAMC bán được với giá 40 tỷ đồng (bán được với tỷ lệ này là giỏi lắm rồi vì thông thường giới mua bán nợ nước ngoài chỉ mua nợ với giá chừng 20-30% giá gốc).

Vì VAMC là một doanh nghiệp, họ cũng phải có sổ sách kinh doanh như mọi doanh nghiệp khác. Thực hiện xong thương vụ này, họ phải ghi sổ ngay một khoản lỗ là 30 tỷ đồng (mua 70 tỷ đồng, bán 40 tỷ đồng). Cứ mua chừng hơn 15 khoản nợ xấu như thế thì VAMC mất hết vốn (vốn điều lệ của doanh nghiệp này chỉ có 500 tỷ đồng). Như vậy, dù bán được giá đến mức nào đi nữa thì mỗi lần bán nợ xấu cho bên thứ ba, VAMC lại chịu ghi nhận một khoản lỗ. Thử hỏi mọi người có còn “phấn khởi” rằng “có những quỹ đầu tư sẵn sàng ném vào thị trường VN khoảng 20 tỉ USD để mua nợ xấu” (báo Tuổi Trẻ).

Thật ra, vị chuyên gia thứ nhì nhận xét, quá trình mua bán nợ giữa VAMC và các ngân hàng là không phải giao dịch bằng tiền (VAMC chỉ mua bằng trái phiếu) nên bán nợ xấu cho bên thứ ba với giá nào thì VAMC cũng thu được tiền thật vô két.

Còn chuyện có phải hạch toán lỗ hay không thì theo Thông tư 19/2013/TT-NHNN ngay khi VAMC bán nợ xấu cho một bên thứ ba nào đó, trái phiếu mà VAMC bỏ ra mua nợ với ngân hàng sẽ tự động đến hạn thanh toán, lúc đó ngân hàng phải hoàn trả số tiền vay tái cấp vốn ở Ngân hàng Nhà nước (nếu có), trả lại trái phiếu cho VAMC và được VAMC thanh toán tiền mà bên thứ ba trả để mua nợ xấu (trừ đi 2% phí cho VAMC).

Vấn đề ở chỗ, nhà đầu tư nước ngoài sẽ nhanh chóng thanh lý tài sản gắn với nợ để kiếm lời (đó là mục đích tối hậu của họ).  “Điều này sẽ gây ra biến động lên thị trường trong nước cũng như lên dòng vốn gián tiếp vào ra tài khoản vốn của Việt Nam, tạo ra sức ép lên thanh khoản ngoại tệ của hệ thống ngân hàng. Trong trường hợp này tác động vào nền kinh tế sẽ rất tiêu cực” – vị chuyên gia nói.

Như vậy mục đích của VAMC là phần nào đó giúp doanh nghiệp nợ tái cấu trúc lại, phục hồi sản xuất để biến số nợ xấu thành không xấu – chứ mục đích của VAMC đâu phải đi kiếm lãi. Nói thế để cảnh giác trước bất kỳ sự phấn khởi nào, rằng người ta đang xếp hàng chờ vào mua nợ xấu của Việt Nam.

Bây giờ chúng ta thử nhìn sâu vào quy trình mua bán nói trên để xem, từ góc độ nhà đầu tư nước ngoài, họ có chịu mua nợ xấu Việt Nam hay không. Dùng lại ví dụ khoản nợ 100 tỷ đồng nói trên, nợ được thế chấp bằng một công trình bất động sản trị giá 140 tỷ đồng. Vậy là quá ngon – chắc có nhiều người chịu bỏ ra hơn 70 tỷ đồng (giá mua nợ xấu của VAMC) để gánh nợ xấu vì đổi lại sẽ được sở hữu công trình đó. Đây chính là mấu chốt của vấn đề nợ xấu ở Việt Nam.

Thử nhớ lại cái ụ nổi mà Vinalines dưới thời Dương Chí Dũng sẵn sàng bỏ ra tổng cộng hơn 525 tỷ đồng để mua về (tiền mua, vận chuyển, sửa chữa, neo đậu...) trong khi giá trị nó thấp hơn nhiều lần, nay bán hầu như không ai chịu mua. Giám định viên đã kết luận tổng thiệt hại do các sai phạm nêu trên là gần 370 tỷ đồng. Giả sử cái ụ nổi này được dùng làm vật thế chấp để Dương Chí Dũng vay một khoản tiền nào đó (cái này là giả định), chẳng hạn là 300 tỷ đồng. Không lẽ chúng ta đi so 525 tỷ đồng giá trên giấy tờ với số nợ 300 tỷ đồng để nói rằng sẽ có người mua khoản nợ 300 tỷ đồng này để được “hưởng” cái ụ nổi giá “thật sự” (trên sổ sách) lên đến 525 tỷ đồng?

Hay lấy thiết bị lặn trị giá 100 triệu đồng được Vũ Quốc Hảo, từng là Tổng giám đốc Công ty cho thuê tài chính II biến thành 130 tỷ đồng (gấp 1.300 lần, theo kết luận điều tra). Cái thiết bị lặn này mà làm tài sản thế chấp thì giảm giá đến bao nhiêu lần mới thu hút sự chú ý của người mua nợ xấu gắn với nó?
  
Dĩ nhiên các khoản nợ xấu VAMC mua về không có hai món hàng “kỷ lục” này nhưng tình trạng kê khống giá tài sản đảm bảo, cộng với thị trường địa ốc sụt giá, không mua bán gì được – tất cả làm chùn tay bất kỳ ai muốn mua nợ xấu. Chưa kể, nhà đầu tư nước ngoài chưa được quyền sở hữu bất động sản, làm sao họ mua nợ xấu được thế chấp bằng bất động sản?


Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Rắc rối chuyện trong ngoài

Rắc rối chuyện trong ngoài

Học và dùng tiếng Anh, chắc các bạn từng gặp rắc rối vì những từ như in, out, on, at… Khi bạn nói dưới mưa, người Anh viết in the rain; còn khi bạn nghĩ trên trời thì người ta lại dùng in the sky và dưới đất cũng vậy – sẽ được dịch thành on the ground.
Chúng ta có thể giải quyết những rắc rối này, hay ít nhất 80% vấn đề nếu bạn nhận ra một hiện tượng: người Anh miêu tả sự vật từ cái nhìn khách quan trong khi chúng ta nhìn sự vật theo con mắt chủ quan của người nói. Khi chúng ta nói bọn trẻ đang chơi ngoài sân thì chúng ta xem hoạt động vui chơi của bọn trẻ đang diễn ra ngoài sân đối với chúng ta. Trong trường hợp này, Người Anh sẽ nói bọn trẻ đang chơi trong sân còn người phát ngôn không quan trọng (The kids are playing in the garden).
Tương tự chúng ta nói, ông ấy đang bơi trênsông vì đó là vị trí chúng ta quan sát. Người Anh nói He’s swimming in the river vì đó là vị trí thật sự của ông ấy.
Vì vậy tả cảnh một cô gái đang đi dưới cơn mưa tầm tã, chúng ta rất chủ quan, xem mình là cơn mưa và cô gái đang đi bên dưới; còn người Anh phớt tỉnh Ăng-lê hơn nhưng lại hòa đồng hơn cùng dạo bước với cô ta nên viết she’s walking in the torrential downpour.
Ngay cả những khái niệm rất đơn giản như in a queue thì dù người nói đang đứng ở bất kỳ vị trí nào, người Anh cũng dùng từ in còn tiếng Việt ta thì khi là đứng giữa hàng, có khi lại đứng trong hàng hay đứng vào hàng tùy theo vị trí người nói. Các bạn thử áp dụng quy luật này để chọn inhay on trong các nhóm từ sau: to sit (in, on) a chair và the man (in, on) that photograph.
Ví dụ bạn nói: Ai ở ngoài cửa vậy? hay Tôi với nàng đứng trò chuyện bên cửa sổ; thậm chí khi bạn đứng dưới đường ngước nhìn nàng sau khung cửa sổ, tất cả đều là at the door hay at the window.
Sự nhất quán này có thể thấy ở các nhóm từ như trên đầu trang giấy (at the top of the page); dưới cuối trang giấy (at the bottom of the page); ở phía cuối đám đông (at the back of the crowd).
Một lý do nữa làm chúng ta lúng túng trong sử dụng giới từ tiếng Anh là sự khác biệt trong diễn đạt. Chúng ta nói khi đang làm việc (không giới từ) nhưng người Anh nói on the job như câu: “China has banned its policemen from drinking alcohol on the job and from getting drunk at any time”. Trong câu này còn thêm từ from khá dễ dịch từ Anh sang Việt (không được) nhưng thường bị bỏ quên khi dịch từ câu tiếng Việt: “Anh ấy bị cấm thi đấu trong hai năm” (He’s banned from playing for two years). Loại diễn đạt này rất nhiều trong tiếng Anh như in a hurry, by chance, on fire.
Một loại cách dùng khác làm chúng ta ngại mấy từ in, on, of xuất hiện trong cụm từ inventor of the radio, chẳng hạn. Chúng ta nói nhà phát minh chiếc máy thu thanh là đủ cần gì thêm ofcho mệt. Nhưng tiếng Anh không có oflà phiền. Có thể liệt kê hàng loạt loại cụm từ này như câu They sent me a cheque for US$50 (Họ gửi cho tôi một tấm séc 50 USD).
Và cuối cùng loại in, on, out, of, fordùng với những cụm động từ tiếng Anh so với loại tiếng Việt tương đương không có trong ngoài gì cả. Bạn nói ai cũng ngạc nhiên vì tin đó nhưng tiếng Anh phải có từ at (Everybody was surprised at the news). Bạn viết, Tôi xin lỗi anh ta vì nhầm nhưng tiếng Anh phải có to (I apologised to him for my mistake). Đôi lúc tiếng Việt làm bạn dịch nhầm như câu: Phim này khác với những gì tôi tưởng (The film was quite different from what I expected).
Như thể muốn làm khó chúng ta, người Anh có từ discuss(thảo luận, bàn bạc) thường làm chúng ta viết sai nhất. Trong khi chúng ta bàn về và yên chí thêm about, tiếng Anh không thêm gì sau discuss.
Thật là rắc rối chuyện trong ngoài.

Trích từ cuốn “Tiếng Anh lý thú” vừa mới xuất bản dạng ebook


Bài đăng phổ biến