Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

Rắc rối chuyện trong ngoài

Rắc rối chuyện trong ngoài

Học và dùng tiếng Anh, chắc các bạn từng gặp rắc rối vì những từ như in, out, on, at… Khi bạn nói dưới mưa, người Anh viết in the rain; còn khi bạn nghĩ trên trời thì người ta lại dùng in the skydưới đất cũng vậy – sẽ được dịch thành on the ground.
Chúng ta có thể giải quyết những rắc rối này, hay ít nhất 80% vấn đề nếu bạn nhận ra một hiện tượng: người Anh miêu tả sự vật từ cái nhìn khách quan trong khi chúng ta nhìn sự vật theo con mắt chủ quan của người nói. Khi chúng ta nói bọn trẻ đang chơi ngoài sân thì chúng ta xem hoạt động vui chơi của bọn trẻ đang diễn ra ngoài sân đối với chúng ta. Trong trường hợp này, Người Anh sẽ nói bọn trẻ đang chơi trong sân còn người phát ngôn không quan trọng (The kids are playing in the garden).
Tương tự chúng ta nói, ông ấy đang bơi trênsông vì đó là vị trí chúng ta quan sát. Người Anh nói He’s swimming in the river vì đó là vị trí thật sự của ông ấy.
Vì vậy tả cảnh một cô gái đang đi dưới cơn mưa tầm tã, chúng ta rất chủ quan, xem mình là cơn mưa và cô gái đang đi bên dưới; còn người Anh phớt tỉnh Ăng-lê hơn nhưng lại hòa đồng hơn cùng dạo bước với cô ta nên viết she’s walking in the torrential downpour.
Ngay cả những khái niệm rất đơn giản như in a queue thì dù người nói đang đứng ở bất kỳ vị trí nào, người Anh cũng dùng từ in còn tiếng Việt ta thì khi là đứng giữa hàng, có khi lại đứng trong hàng hay đứng vào hàng tùy theo vị trí người nói. Các bạn thử áp dụng quy luật này để chọn inhay on trong các nhóm từ sau: to sit (in, on) a chairthe man (in, on) that photograph.
Ví dụ bạn nói: Ai ở ngoài cửa vậy? hay Tôi với nàng đứng trò chuyện bên cửa sổ; thậm chí khi bạn đứng dưới đường ngước nhìn nàng sau khung cửa sổ, tất cả đều là at the door hay at the window.
Sự nhất quán này có thể thấy ở các nhóm từ như trên đầu trang giấy (at the top of the page); dưới cuối trang giấy (at the bottom of the page); ở phía cuối đám đông (at the back of the crowd).
Một lý do nữa làm chúng ta lúng túng trong sử dụng giới từ tiếng Anh là sự khác biệt trong diễn đạt. Chúng ta nói khi đang làm việc (không giới từ) nhưng người Anh nói on the job như câu: “China has banned its policemen from drinking alcohol on the job and from getting drunk at any time”. Trong câu này còn thêm từ from khá dễ dịch từ Anh sang Việt (không được) nhưng thường bị bỏ quên khi dịch từ câu tiếng Việt: “Anh ấy bị cấm thi đấu trong hai năm” (He’s banned from playing for two years). Loại diễn đạt này rất nhiều trong tiếng Anh như in a hurry, by chance, on fire.
Một loại cách dùng khác làm chúng ta ngại mấy từ in, on, of xuất hiện trong cụm từ inventor of the radio, chẳng hạn. Chúng ta nói nhà phát minh chiếc máy thu thanh là đủ cần gì thêm ofcho mệt. Nhưng tiếng Anh không có oflà phiền. Có thể liệt kê hàng loạt loại cụm từ này như câu They sent me a cheque for US$50 (Họ gửi cho tôi một tấm séc 50 USD).
Và cuối cùng loại in, on, out, of, fordùng với những cụm động từ tiếng Anh so với loại tiếng Việt tương đương không có trong ngoài gì cả. Bạn nói ai cũng ngạc nhiên vì tin đó nhưng tiếng Anh phải có từ at (Everybody was surprised at the news). Bạn viết, Tôi xin lỗi anh ta vì nhầm nhưng tiếng Anh phải có to (I apologised to him for my mistake). Đôi lúc tiếng Việt làm bạn dịch nhầm như câu: Phim này khác với những gì tôi tưởng (The film was quite different from what I expected).
Như thể muốn làm khó chúng ta, người Anh có từ discuss(thảo luận, bàn bạc) thường làm chúng ta viết sai nhất. Trong khi chúng ta bàn về và yên chí thêm about, tiếng Anh không thêm gì sau discuss.
Thật là rắc rối chuyện trong ngoài.

Trích từ cuốn “Tiếng Anh lý thú” vừa mới xuất bản dạng ebook


Chủ Nhật, 20 tháng 10, 2013

Chuyện so sánh

Chuyện so sánh

Ghi chú: Cuốn “Tiếng Anh lý thú” mà tôi vừa đưa lên Smashwords và Amazon sẽ “nhẹ nhàng” hơn cuốn “Tám chuyện tiếng Anh” vừa tái bản ở dạng ebook. “Nhẹ nhàng” là vì nó nói những chuyện thường thấy hơn, như bài dưới đây. Sẽ đưa link khi xuất bản xong. (Link: https://www.smashwords.com/books/view/369258); (Amazon: https://www.amazon.com/dp/B00G1NL9I2)

Trong tiếng Anh có những mẫu câu so sánh rất độc đáo mà nếu không cẩn thận chúng ta dễ hiểu sai. Ví dụ với câu: “She isn’t as smart as she is beautiful” phải hiểu tác giả muốn chê khéo rằng trông cô ấy xinh đẹp vậy chứ không được thông minh cho lắm. Còn nếu bạn muốn khen một cô gái vừa khôn ngoan vừa chăm chỉ, có thể nói, she’s as hard-working as she’s clever. Hay như câu sau He isn’t as old as he looks phải được dịch thành, ông ấy già trước tuổi.

Mẫu câu so sánh này có thể dùng cả với danh từ như She’s as good an actress as she’s a singer.Trường hợp này nên hiểu, cô ấy diễn xuất giỏi mà hát cũng hay. Nhận xét về một diễn viên khác, có người cho rằng “His eyes aren’t quite as blue as they look in the film”. Ý người này muốn nói trong phim trông mắt anh ta xanh vậy chứ ngoài đời không hẳn thế đâu.

Khi xem phim các bạn cũng có thể nghe câu: “You look like shit”. Ở đây người ta nói không có ý gì nhục mạ cả mà chỉ muốn nhận xét, trong anh ta hốc hác quá. Với một nhận xét khác, It’s not like you to take offense là ý người nói muốn tỏ vẻ ngạc nhiên, anh mà cũng phật ý à.

Mẫu câu đảo ngược như trong trường hợp sau cũng rất thông dụng. Ridiculous as it seems, the tale is true. Trong câu này ý tưởng so sánh mang nghĩa, mặc dầu nghe qua rất buồn cười nhưng câu chuyện ấy là có thật.

Áp dụng cách nói ấy, nếu bạn muốn diễn đạt một ý cho rằng ông ta là cây bút xuất sắc nhưng cuộc sống ông ấy không phải là tấm gương tốt, bạn có thể viết: “Great as the author was, he proved a bad model”. Hoặc câu Much as I like you, I couldn’t lend you any more money sẽ được hiểu, dù tôi thích anh lắm đấy nhưng tôi không thể cho anh mượn thêm tiền nữa đâu.

Thể loại so sánh độc đáo còn có loại câu as…go. Ví dụ The hotel is quite comfortable as such establishments go - “Khách sạn loại đó mà được thế là tốt quá rồi”. Còn muốn nói hà cớ gì anh ta lại đi nói dối, bạn có thể viết, “He was so foolish as to lie”.

Như vậy gặp loại câu so sánh hơi lạ một chút bạn nên tách chúng ra thành những ý nhỏ để dễ hiểu và dịch chính xác. The city centre wasn’t as crowded this morning as it usually is (Sáng nay so với ngày thường); The weather’s better today, isn’t it? – Yes, it’s not as cold. (Hôm nay so với hôm qua); The situation is not so bad as you suggested (Thực tế so với dự đoán).

Thành ngữ As likely as not không có ý so sánh, đơn giản nó đồng nghĩa với very likely. As likely as not, he’ll be late as usual - rất có thể anh ta lại trễ như thường lệ.

Nói chuyện so sánh mời bạn đọc thử mẩu chuyện cười sau:

A little old lady was trying to cross the road, after a number of attempts, and almost being knocked down by a car, she stood on the sidewalk to catch her breath. A kind gentleman tapped her on the shoulder and said, “There’s a zebra crossing just down the road.”

The little old lady replied, “Oh my goodness, I hope it is having more success than I am!”

Để hiểu nó bạn chỉ cần nhớ zebra vừa là con ngựa vằn; zebra crossing lại là chỗ dành riêng cho người đi bộ băng qua đường (có những vạch sơn trắng).

---- 
Quảng cáo một chút: “Before marriage, a man yearns for the woman he loves. After marriage, the ‘Y’ becomes silent”. Đây có lẽ là đúc kết của một anh chàng vừa lấy vợ, phát hiện chân lý, rằng ngày xưa anh chàng yearn (khát khao) nay thì earn (làm ra tiền nuôi) vợ, hai thái độ thường thấy trước và sau khi lập gia đình.

Có thể đọc hàng loạt các câu vừa mang tính “triết lý” vừa để học tiếng Anh tương tự trong cuốn “Tiếng Anh lý thú” vừa mới xuất bản trên Smashwords và Amazon. 

Smashwords: http://www.smashwords.com/books/view/369258

Amazon: https://www.amazon.com/dp/B00G1NL9I2

Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

Thoát khỏi ảo tưởng

Thoát khỏi ảo tưởng

Lâu nay chúng ta thường lấn cấn với suy nghĩ, nợ của doanh nghiệp nhà nước có lẽ không liên quan gì đến nợ công vì doanh nghiệp, dù của nhà nước, nhưng đã tự vay thì phải tự trả, nhất là đối với các khoản vay không có sự bảo lãnh của Chính phủ. Suy nghĩ này càng được củng cố khi nhiều quan chức từng khẳng định về một trường hợp cụ thể là các khoản vay của Vinashin, rằng “Vinashin tự vay thì Vinashin phải tự trả thôi”.

Chỉ mấy năm sau ngày có những phát biểu như đinh đóng cột này, tuần trước đã lộ rõ khả năng Chính phủ phải đứng ra trả nợ thay Vinashin, không chỉ với khoản vay bằng trái phiếu quốc tế 750 triệu đô-la do Chính phủ phát hành lấy tiền về giao cho Vinashin kinh doanh, mà còn với khoản vay 600 triệu đô-la nguyên thủy không có bảo lãnh của Chính phủ. Để đổi lấy việc các chủ nợ không kiện Vinashin ra tòa, để đổi lấy việc chưa phải thanh toán ngay, Vinashin và Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) đã phát hành trái phiếu đảo nợ khoản vay 600 triệu đô-la nói trên, trì hoãn lại thời gian trả cả gốc lẫn lãi thêm 12 năm nữa. Vấn đề nằm ở chỗ khoản vay cũ không có Chính phủ bảo lãnh, còn trái phiếu mới được Chính phủ bảo lãnh, có nghĩa 12 năm nữa cho dù Vinashin có tiếp tục làm ăn thất bát đi nữa thì chắc chắn một điều nghĩa vụ nợ này là do ngân sách gánh chịu. Có thể chủ nợ mới chịu bởi tính ra số tiền nhận được trong tương lai 12 năm nữa chỉ bằng chừng 30% số tiền hiện nay.

Tranh luận quanh chuyện này cũng đã nhiều, dù sao giải quyết êm xuôi cũng còn hơn uy tín tín dụng của cả nước bị ảnh hưởng. Vấn đề cần nhấn mạnh là suy nghĩ nợ của doanh nghiệp nhà nước không liên quan đến nợ công xem như phá sản.

Một minh chứng khác: Vào cuối tháng 9 vừa qua, cũng Vinashin thông qua DATC đã hoán đổi 11.900 tỷ đồng tiền nợ với 18 tổ chức tín dụng thành trái phiếu DATC. Cho dù các tổ chức tín dụng chỉ nhận về lượng trái phiếu trị giá chừng 30% giá trị thật của khoản nợ, đối với họ như thế còn hơn không vì trái phiếu này cũng được Chính phủ bảo lãnh. Sắp sửa có thêm một đợt hoán đổi như thế nữa vào cuối năm nay. Nói cách khác, món nợ 86.000 tỷ đồng của Vinashin mà trước đây được khẳng định do Vinashin chịu thì nay dần dần biến thành nợ có Chính phủ bảo lãnh, ít nhất là theo một tỷ lệ nào đó. Mười năm nữa, tình hình tài chính của Vinashin ắt cũng chưa có chuyển biến tích cực, vẫn chưa có thặng dư để trả nợ, theo chính tính toán của tập đoàn này. Vậy 10 năm nữa, ngân sách lại phải đứng ra lo trả nợ thay cho Vinashin.

Xin nhắc lại một lần nữa, có biện pháp giải quyết dù sao cũng hơn là tình trạng bế tắc kéo dài trong mấy năm qua. Các tổ chức tín dụng dù sao cũng phải gánh chịu phần lớn thiệt hại vì sự cho vay không cẩn trọng của mình. Hướng đi hoán đổi nợ là điều phải làm. Điều duy nhất mà chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là nợ doanh nghiệp nhà nước trước sau gì cũng trở thành nợ công và ngân sách phải gánh chịu - đó là một thực tế không thể chối cãi.

Thấy được điều đó, có nghĩa chúng ta hết ảo tưởng về các doanh nghiệp nhà nước, rằng 1,33 triệu tỷ đồng mà các doanh nghiệp này đang nợ (tính đến 1-2013) là chuyện của họ lo. Không - con số nợ khổng lồ đó có thể là các khoản nợ kinh doanh bình thường mà doanh nghiệp nào cũng phải có nhưng cũng dễ dàng biến thành cơn ác mộng cho ngân sách nếu chúng ta không thận trọng trong quản lý các doanh nghiệp nhà nước.

Và con đường quản lý thận trọng nhất là cải tổ cả khu vực này theo hướng như ai cũng đều nhất trí: cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê hầu hết chỉ giữ lại những doanh nghiệp thiết yếu cho nền kinh tế, an ninh quốc phòng. Vấn đề là thực hiện điều ai cũng nhất trí đó như thế nào - vì từ đầu năm 2013 đến nay chỉ có chừng 10 doanh nghiệp được cổ phần hóa.



Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

Ghi chép - 5

Ghi chép - 5

+ Một số bài dẫn link để lưu lại vì không post lên đây.

Bài “TPP is a remedy but of a different kind” trên Financial Times

Bài “Người dân và chuyện xã hội” trên Tuổi Trẻ cuối tuần

Bài “Đừng thương mại hóa một chủ trương giáo dục” trên Thanh Niên

Bài bàn tròn “Muôn vẻ thương mại hóa giáo dục” trên TBKTSG

Bài bàn tròn về kinh tế nhà nước trên TBKTSG "Ai lo chuyện an sinh xã hội?"
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/ykien/104950/Ai-lo-chuyen-an-sinh-xa-hoi?.html
*                      *                      *
+ Tiếng Anh trong đóng cửa chính phủ

Chuyện đóng cửa chính phủ là chuyện lớn, báo chí Mỹ khai thác đủ cách đủ kiểu nên anh em làm trang quốc tế ở Việt Nam chạy theo cũng mệt. Và mệt nên dễ xảy ra sai sót.

Trong bản tin này, chắc chắn các câu sau là sai: “ông Obama có thể chấp nhận tăng trần nợ”; “Nếu Nhà Trắng sẵn sàng tăng trần nợ... thì đây là một dấu hiệu tích cực”. Vì sao lại sai thì để hạ hồi phân giải.

Đầu tiên chúng ta nên giải quyết một lần tất cả những từ quan trọng liên quan đến đề tài này. Chính phủ Mỹ đóng cửa vì ngân sách cho tài khóa 2014 chưa được Quốc hội Mỹ thông qua. Để thông qua có hai dạng, appropriation, là phân bổ ngân sách cho cả năm hay continuing resolution, là phân bổ tạm thời cho các chương trình cụ thể.

Với appropriation, chúng ta thường bị rối trí vì báo chí dùng rất nhiều từ để miêu tả, khi thì bill (dự luật do Quốc hội đưa ra) khi thì act (đã được thông qua và tổng thống ký ban hành), lúc lại dùng legislation (đạo luật - dùng chung), lúc lại là measure (từ dùng chung cho cả bill, resolution). Mỗi năm phải thông qua chừng 12-13 cái appropriation bills như thế nhưng ít có năm nào làm suôn sẻ.

Hiện nay hai bên chưa tính đến appropriation bởi ngay cả continuing resolution (kiểu như nghị quyết chung để tiếp tục giải ngân) cũng bất đồng vì một bên (đảng Cộng hòa) đòi thêm điều khoản hoãn hay không giải ngân cho Obamacare (delaying or defunding the Patient Protection and Affordable Care Act) một bên (đảng Dân chủ) đòi bớt. Resolution ở đây là nghị quyết nhưng khi báo viết “no resolution to the standoff in sight” thì lúc đó là giải pháp (không thấy giải pháp cho bế tắc này).

Cái thứ hai là chuyện dài hơi hơn - debt ceiling (trần nợ). Trần nợ muốn nâng cũng phải có bill của Quốc hội cho phép nâng, nâng thì có nhiều mức, ngắn, trung và dài hạn. Còn khi không có bill thì phải áp dụng cái gọi là “extraordinary measures” (biện pháp bất thường) - cái này thì không cần Quốc hội thông qua mà do Bộ Tài chính Mỹ quyết định (measure này khác với measure ở trên nhé). Hiện nay chính phủ Mỹ đang chi tiền theo dạng “extraordinary measures” mà đến 17-10 này là hết phép xoay xở. Các measures này chủ yếu là ngưng đầu tư tiền của các quỹ hưu trí hay lấy tiền đầu tư về sớm. Còn đến hạn mà không trả được nợ (cả debts (như trái phiếu) và obligations (như trả lương hưu) nói chung) thì gọi là default.

Trước đó, để tránh vượt trần nợ này, Mỹ tăng thuế đồng thời giảm chi ngân sách - nhờ đó mức bội chi sẽ giảm còn một nửa - tình hình này gọi là fiscal cliff (vách đá tài khóa) từng ồn ào một dạo.

Trang bị những từ này, chúng ta thử đọc một vài bản tin. “President Barack Obama is ready to talk even on Republicans' terms, he insisted Tuesday, so long as Congress acts first to end the government shutdown and raise the debt ceiling -- even for a short period”. Như vậy ý ông Obama nói ổng sẵn sàng chấp nhận ngồi xuống đàm phán với đảng Cộng hòa nếu Quốc hội thông qua ngân sách tạm thời và nâng trần nợ tạm thời. Cả hai chuyện này đâu nằm trong quyền hạn của ông Obama cho nên hai câu trích ở đầu bài nó sai là vì vậy. Đây là câu nói của Obama: “If they can’t do it for a long time, do it for the period of time in which these negotiations are taking place”.

Một câu khác trong bản tin của CNN khẳng định chuyện đó: “GOP members may be willing to go for a short-term debt ceiling hike -- lasting four to six weeks -- as long as the president agrees negotiations will occur during that time”. GOP là tiếng lóng chỉ đảng Cộng Hòa, hike ở đây là nâng. Tăng trần nợ là quyền hạn của Quốc hội.

Nói gì thì nói, cái tựa bài trên tờ Economist là lời nhận xét chính xác nhất cho đến nay “No way to run a country” (Điều hành một đất nước kiểu gì lạ vậy) bởi “enough is enough”.

*                      *                      *
+ Khi cái giả dối không bị trừng phạt
Tuổi Trẻ số ra ngày thứ Bảy (5-10-2013) có một bài viết ngắn của phụ huynh kể chuyện con tham gia chương trình game show. Đọc xong không khỏi bàng hoàng; nếu câu chuyện đúng như lời kể thì tất cả mọi người đều đang mắc một tội trọng: làm lơ trước cái xấu.
Phụ huynh kể con ông đi thi ra với vẻ mặt buồn bã, bởi, cô bé kể, “... con trả lời đúng hết nhưng chú trong phòng thu bắt con trả lời ba câu theo chú nhưng câu trả lời sai”, có nghĩa để cuộc thi hấp dẫn, bất ngờ, người thi mà cụ thể ở đây là cô bé buộc phải nói sai theo đạo diễn mấy câu. Người phụ huynh viết bài kết luận “Mỗi khi xem truyền hình có chương trình ấy, cháu lại nói: ‘Chương trình xạo, bắt trẻ em nói sai!’”.
Nếu tờ báo chỉ dừng ở việc đăng bài này không thôi rồi chấm dứt, tờ báo đã bỏ quên nhiệm vụ người làm báo: đi đến tận cùng sự thật. Phải cử phóng viên điều tra, hỏi han, xác minh xem câu chuyện kể này có đúng như vậy không. Và nếu đúng, phải chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền để buộc ngưng một chương trình trò chơi mang tính dối trá.
Loại game show theo dạng câu đố như thế này cũng từng dính các tai tiếng dàn xếp, tiết lộ đáp án, chọn người thắng giải ở nhiều nước như Mỹ, Anh, Úc. Vấn đề là mỗi khi có dấu hiệu gian lận như thế, chương trình bị ngưng ngay và thậm chí người tổ chức gian lận còn truy tố tội hình sự nữa.
Không thể du di nói đó chỉ là trò chơi, cũng là một dạng đóng kịch sao cho hấp dẫn người xem. Nếu suy nghĩ như thế dần dà chúng ta sẽ quen dần với thói nói dối, tặc lưỡi cho qua một chuyện, chúng ta sẽ phẩy tay cho qua hàng loạt chuyện khác.
Ngay cả người phụ huynh khi kể câu chuyện dường như cũng chỉ để cảnh báo các bậc cha mẹ: “Quyết định cho con em tham gia, cha mẹ cần phải giải thích cho trẻ hiểu đây chỉ là trò chơi nên người tổ chức chương trình phải dàn dựng để tạo bất ngờ, hấp dẫn nhằm thu hút người xem, vì vậy thắng hay thua, đúng hay sai cũng là điều bình thường”. Không được - không thể thỏa hiệp với cái xấu, phải đấu tranh để loại bỏ những cảnh buộc con em chúng ta nói dối như trong bài vì tác động của chúng lên đầu óc non nớt của các em sẽ rất nặng nề. Chỉ ước gì học sinh của chúng ta cũng được giáo dục như chúng cần được giáo dục, có nghĩa dạy cho các em hiểu quyền của các em, cách đối phó với cái xấu, cách đối phó với người lớn bày làm chuyện sai. Ví dụ trong trường hợp này tôi tin chắc một em học sinh một nước như Phần Lan chẳng hạn sẽ biết từ chối “đóng kịch” cố ý nói sai và sau đó sẽ biết gởi thư đến đâu để phản đối.
Các chương trình giải trí trên truyền hình thường là chương trình “xã hội hóa”, tức tư nhân thực hiện và giao lại cho đài truyền hình phát sóng. Trách nhiệm của đài truyền hình khi nghe phản ánh về khả năng có gian dối trong một chương trình như thế là phải điều tra, tìm hiểu và chấn chỉnh ngay.
Giới quản lý báo chí, thường rất nhanh nhạy trong những chuyện khác, đến vụ này cũng không nghe nói năng chi. Dường như ai nấy đều suy nghĩ có nói dối một chút cũng không có gì để làm ầm ĩ.
Hãy nghĩ đến tác hại trước mắt vào cô bé đi thi. Phụ huynh kể: “Hôm sau đi học về, con gái tôi khóc và nói rằng các bạn bảo con ngu, còn cô giáo thì nói con rất thông minh, lanh lợi nhưng sao không chú ý nghe kỹ câu hỏi để trả lời sai uổng quá”. Đó là một sự tổn thương rất lớn, có thể ghi vào trí nhớ của em suốt đời.



Thứ Năm, 3 tháng 10, 2013

Kinh tế nhà nước

Nếu “kinh tế nhà nước” không bao gồm “doanh nghiệp  nhà nước”!

Nhiều người phản đối câu "kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo" bởi doanh nghiệp nhà nước hiện đang là gánh nặng của nền kinh tế, vừa kém hiệu quả vừa gây thất thoát tài sản quốc gia. Nhiều doanh nghiệp nhà nước thua lỗ nặng nề, bắt nhà nước gánh những khoản nợ lớn do họ gây ra trong khi khu vực này không tạo ra công ăn việc làm bao nhiêu cả.

Lập luận trên quá thuyết phục nhất là trong bối cảnh các vụ Vinashin, Vinalines đang còn nóng hổi trong đầu mọi người. Thế là mới có lập luận mới: "Chúng tôi nói kinh tế nhà nước chứ đâu nói doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước không chỉ có doanh nghiệp nhà nước mà còn nhiều thứ khác như các quỹ dự trữ của quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước, ngân sách nhà nước…"

À, biến báo như thế cũng gọi là giỏi. Vấn đề ở chỗ các nguồn lực quốc gia như cái gọi là các quỹ hay ngân sách nhà nước là để dùng chung cho xã hội thì bản thân nó nằm tách ra một bên chứ đâu có so sánh với ai đâu mà cần xem nó là chủ đạo hay không chủ đạo.

Vì thế, có một đề nghị rất mới: cứ quy định kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo. Đồng ý. Nhưng kèm theo đó phải định nghĩa kinh tế nhà nước KHÔNG bao gồm các doanh nghiệp nhà nước.

Chứ gì nữa. Một khi xem là chủ đạo thì nhà nước phải sử dụng được “cái chủ đạo” này cho các mục tiêu, các chính sách xã hội của mình. Nhưng với doanh nghiệp nhà nước thì bó tay. Doanh nghiệp nhà nước cũng chỉ nộp thuế như bao doanh nghiệp khác còn lại nhà nước hiện không làm gì họ được cả: tiền lãi họ làm ra cũng để đó chứ không đưa vào ngân sách, tiền bán cổ phần cũng để một cục, không biết làm gì bèn bỏ vào ngân hàng lấy lãi, bắt họ bình ổn giá thì họ đòi tăng giá, họ nợ lại bắt nhà nước nai lưng ra trả.

Nói tóm lại, hoặc là không ghi “kinh tế nhà nước” đóng vai trò chủ đạo; hoặc ghi cũng được nhưng phải hiểu trong “kinh tế nhà nước” không có các doanh nghiệp nhà nước. Với một quy định như thế cuộc chơi bình đẳng sẽ được xác lập, doanh nghiệp nhà nước buộc phải cạnh tranh để phát triển như doanh nghiệp thuộc thành phần khác, nhất là trong bối cảnh hội nhập, doanh nghiệp nhà nước cũng phải vươn ra làm ăn ở những nước hoàn toàn không có khái niệm về thành phần kinh tế chủ đạo. Làm như thế cũng là khẳng định một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa mọi thành phần kinh tế, phù hợp với yêu cầu xác lập một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, đồng thời làm cơ sở để đẩy mạnh việc cải tổ khu vực doanh nghiệp nhà nước.


Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2013

Tiếng Anh trong lời nhạc

Tiếng Anh trong lời nhạc

Tuần này chúng ta thử quan sát tiếng Anh được sử dụng trong lời các bài hát bằng tiếng Anh. Đây là loại tiếng Anh đơn giản, dễ hiểu lại dễ nhớ. Tuy nhiên thường mỗi bài có đôi chỗ khó hiểu, không phải vì từ vựng mà vì cách diễn đạt lạ.

Lấy ví dụ bài “Careless Whisper”, câu đầu trong điệp khúc “Time can never mend/the careless whispers of a good friend/to the heart and mind/ignorance is kind”. Người ta thường nói không hay, không biết gì cả đôi lúc là điều hạnh phúc, điều hay - câu diễn tả ý này thường là “Ignorance is bliss”. Nói ignorance is kind cũng tương tự như vậy. Ở đoạn “cao trào” có câu: “Tonight the music seems so loud/I wish that we could lose this crowd”. Trong phim hành động chúng ta thường nghe các nhân vật nói với nhau: “Làm sao để cắt đuôi gã này” - “lose this crowd” ở đây cũng có nghĩa ước gì bỏ đám đông này mà đi nơi khác.

Trong bài “The Winner Takes It All”, chuyện đánh bài được đưa ra để ví von với chuyện tranh giành tình cảm. Vì thế mới có câu: “I’ve played all my cards/And that's what you've done too/Nothing more to say/No more ace to play”. Ace là con ách, được dùng theo nghĩa lá bài tốt nhất, nên khi không còn con ách nào trong tay là xem như thua rồi. “She aced the exam” có nghĩa em này thi được điểm A; “ace in the hole” là lợi thế còn giấu để dành; nhưng “within an ace of” chỉ là suýt nữa (He came within an ace of losing the election). Vì dùng hình ảnh cờ bạc may rủi nên bài hát có câu: “The gods may throw a dice/Their minds as cold as ice/And someone way down here/Loses someone dear”. Dice là những hột xúc xắc, số ít của từ này là die, động từ thường dùng kèm là throw a diehay cast a die. Vì thế thành ngữ “The die is cast” - chính là số phận đã an bài.

Một số bài dùng biện pháp nhấn mạnh nên cả bài nói đủ thứ chuyện chỉ để đưa đến một kết luận bất ngờ. Chẳng hạn, bài “I just call to say I love you”, phần đầu tác giả dùng rất nhiều dẫn chứng để nói rằng hôm nay không phải là ngày đặc biệt. Những dẫn chứng này có thể gây khó hiểu. “No April rain/no flowers bloom” là vì mưa tháng 4 được xem là dịp đặc biệt - April showers bring May flowers. “No Libra sun/No Halloween” là bởi theo tử vi phương Tây, mặt trời vào cung Thiên Bình (Libra) từ 23-9 đến 23-10, một thời điểm mà “Many modern astrologers regard as the most desirable of zodiacal types because it represents the zenith of the year, the high point of the seasons”. Cái hay của tác giả là liệt kê hết các ngày đặc biệt trong năm từ “No New Year’s Day to celebrate...” cho đến “No giving thanks to all the Christmas joy you bring” và nói rằng hôm nay không phải là các ngày đó. Chỉ đơn giản - I just called to say I love you/And I mean it from the bottom of my heart.

Có lẽ nhiều người đã từng nghe qua bài “Hotel California”, bị cuốn hút bởi đoạn intro dài bằng guitar mượt mà nhưng không hiểu lời bài hát nói gì. Đại khái tác giả lái xe lang thang trong đêm trên xa lộ hoang vắng, ghé lại một khách sạn kỳ bí, chứng kiến những hình ảnh lạ lùng, tác giả cố gắng thoát ra nhưng không được. Đã có đủ loại đồn đãi, lý giải chung quanh lời bài hát, từ chuyện cho rằng tác giả muốn miêu tả một giáo phái thờ cúng Satan, đến chuyện đây là hình ảnh ẩn dụ của một nhà thương điên... Tuy nhiên, ban nhạc Eagle, qua nhiều phỏng vấn, cho rằng họ muốn nói đến lối sống hưởng thụ, trụy lạc, sử dụng ma túy không lối thoát của miền Nam California thập niên 1970, đặc biệt là trong ngành công nghệ âm nhạc. “And she said we are all just prisoners here, of our own device” - Device ngoài nghĩa bình thường là thiết bị, còn dùng trong các thành ngữ “to leave someone to his own device” - để mặc ai tự xoay xở, tự ý muốn làm gì thì làm; “of our own device” ở đây là do lỗi của chính ta thôi, không ai bắt ta giam làm tù nhân cả. Cho nên mới có câu cuối cùng, là lời của người trực đêm: You can checkout any time you like/But you can never leave!

Trong bài này có những câu dùng ẩn dụ: “Her mind is Tiffany-twisted, she got the Mercedes bends...”. Thông thường người ta chỉ cần nói “Her mind is twisted” (đầu óc của ả bị chạm mạch) là đủ nhưng ở đây dùng thêm Tiffany (tên một chuỗi cửa hàng nữ trang nổi tiếng). Ý của tác giả muốn nói đến sự đam mê vật chất, đầu óc quay cuồng vì những thứ như nữ trang Tiffany, xe Mercedes-Benz... Wikipedia cho rằng: “The lyrics “her mind is Tiffany-twisted, she’s got the Mercedes bends” (bends rather than the typically used “Benz”) both associate physical discomforts with expensive merchandise”.

Có lẽ đến đây, khi nghe lại bản nhạc này chúng ta không còn thắc mắc vì sao có câu: “So I called up the captain/please bring me my wine/He said, we haven’t had that spirit here since nineteen sixty nine”. Spiritvừa có nghĩa là rượu vừa mang nghĩa tinh thần, ý nói đến tinh thần của thanh niên Mỹ thập niên 1960

(Trích cuốn Tám chuyện tiếng Anh, vừa tái bản trên Smashwords và Amazon)



Thứ Năm, 26 tháng 9, 2013

Khó hay dễ?

Khó hay dễ?

Tiếng Anh rất dễ học nếu mục đích học chỉ là để giao tiếp thông thường hay đọc hiểu những văn bản đơn giản. Nhưng để hiểu hết những tinh tế trong tiếng Anh, để sử dụng được tiếng Anh như người bản ngữ, người học phải vật lộn với muôn vàn khó khăn. Xin trích một câu nói lên sự phức tạp của tiếng Anh trên tờ Financial Times: There is, however, plenty that is difficult about English. Try explaining its phrasal verbs - the difference, for example, between “I stood up to him” and “I stood him up”.

Phrasal verbs đúng là món khó nuốt nhất trong tiếng Anh vì chúng thường gồm các từ quen thuộc nhưng khi đi kèm với nhau lại mang nghĩa mới, hoàn toàn không liên quan gì đến nghĩa gốc. Trong ví dụ trên, to stand up to someone là đương đầu, đối đầu với ai còn to stand someone up lại là cho ai leo cây. Đấy là tác giả chưa thử nêu thêm vài nghĩa của các phrasal verbscó động từ stand, như stand up for là bảo vệ, đứng về phe; stand up with là làm phụ dâu hay phụ rể; chưa kể stand không thôi cũng có nghĩa lạ như câu My offer stands (Đề nghị của tôi vẫn còn giá trị).

Chúng ta thử đọc các bài báo kinh tế xem phrasal verbs và các cụm từ mang tính đặc ngữ khác có khả năng làm người đọc mất “cảnh giác”, dẫn đến chỗ hiểu sai, hiểu sót như thế nào.

Trong bài “The Consumer Crunch” trên tờ BusinessWeekcó câu: “In the dot-com bust of 2001, for example, tech companies and stocks took it on the chin, while consumer spending and borrowing sailed through without a pause”. To take it on the chin ở đây là chịu thiệt hại nặng nề, trực tiếp nhất; còn sail through là dễ dàng vượt qua. Một câu khác cũng trong bài này: The latest retail sales numbers, which showed a soft 0.2% gain in October, suggest that spending may hold up through this holiday season. Hold up ở đây là duy trì [mức cũ]. Cái khó là nếu hold updùng trong câu khác ở một văn cảnh khác, lại phải hiểu theo văn cảnh mới (trong khi nghĩa gốc vẫn giữ nguyên): He managed to hold up under the daily stress - vẫn bình chân, vẫn duy trì phong độ. Cái khó hơn nữa là bản thân hold uplại có nhiều nghĩa khác: The plane’s departure was held up because of the storm (bị trễ); Robbers held up that shop last month (cướp); The teacher held the essay up as a model for the students (đưa ra làm minh họa)...

Sau khi dẫn chứng một vài số liệu, bài báo viết: Those numbers aren’t dead-on accurate - với nghĩa của dead-on là [chính xác] tuyệt đối. Với câu này, dead-on mang nghĩa ngắn gọn, súc tích, đi thẳng vào vấn đề: “She avoids big scenes... preferring to rely on small gestures and dead-on dialogue”. Đến phần tiên đoán tác động của sự sụt giảm chi tiêu vào nền kinh tế nói chung, tác giả viết: Conventional wisdom is that consumer spending makes up 70% of gross domestic product. Có lẽ make up trong câu này đã quen thuộc với nhiều người (cấu thành, chiếm) nhưng cũng từ make up này trong câu He made up the difference in the bill - các bạn có đoán được nó có nghĩa gì không? Anh chàng này chơi đẹp, đã trả bù cho khoản còn thiếu trên hóa đơn tính tiền. Một cuốn từ điển tốt sẽ liệt kê vài chục nghĩa của cụm động từ make up.

Ở một bài khác, có tựa: Microsoft Sales Are Up, and Gates Is Off, rõ ràng phải hiểu các phrasal verbs, mới hiểu nghĩa của tựa bài, muốn đề cập hai ý chính - doanh số của Microsoft đang tăng và Bill Gates không còn tham gia điều hành hãng này nữa. 

Tổng kết tình hình chứng khoán trong ngày, tờ New York Times trích lời một nhà phân tích: You can certainly come up with a list of the top 10 reasons why we should be down. Cụm từ be down (sụt giá) tương đối dễ; cụm từ come up with (nghĩ ra, phát hiện) cũng thường thấy. Nhưng come down on dễ bị hiểu sai: “A district attorney who came down hard on drug dealers” là một người quyết tâm truy quét, trừng phạt bọn buôn bán ma túy. Và chỉ cần thay chữ onbằng to hay with là nghĩa biến đổi khác hẳn. It comes down to this: the man is a cheat - come down to ở đây là thực chất của vấn đề; và come down with là bị ngã bệnh.

Đôi lúc các dạng phrasal verb này chuyển thành danh từ ghép thì nghĩa của chúng cũng khác xa với các từ riêng lẻ tạo ra chúng. Cũng tờ New York Times trong một bài nói về tâm lý chọn bạn đời của nam giới, đã viết: “It isn’t exactly that smarts were a complete turnoff for men”. (Xin mở ngoặc nói thêm smarts trong câu này dùng như danh từ chỉ sự thông minh, đầu óc thông minh). Xuất phát từ phrasal verbturn off”, mang nghĩa ghét, dị ứng (That song really turns me off), chúng ta có từ “turnoff” - một điều, một vật, một người gây dị ứng, không ưa được.

Có thể kể và giới thiệu mãi về các phrasal verbs xuất hiện thường xuyên trong tiếng Anh. Vấn đề là người học nên chú ý, gặp câu nào hơi khó hiểu, phải tra cứu nghĩa của cả cụm từ chứ đừng bị “lạc hướng” vì nghĩa đơn giản của từng từ. Đấy là cái khó của tiếng Anh.  

(Trích từ cuốn "Tám chuyện tiếng Anh" vừa mới xuất bản)

Nếu đọc xong bài trên và vẫn muốn đọc tiếp chừng 70 bài khác, tám chuyện tiếng Anh tương tự như thế, xin vào Smashwords để mua sách (link ở đây). Còn ai không thích Smashwords thì mời vào Amazon, ấn bản Kindle (link ở đây).


Bài đăng phổ biến